*NNK 45 - Đường Thi- Chủ Đề Biên Tải Kỳ 18(Bài Viết ) Nhà Thơ Nguyễn Ngọc Kiên (Hà- Nội- VN)

 

Nhà Thơ Nguyễn Ngọc Kiên

 

 

ĐƯỜNG THI – CHỦ ĐỀ BIÊN TÁI

(Kì 18)

Nguyễn Ngọc Kiên chọn dịch và giới thiệu thơ

 

NHÀ THƠ VƯƠNG TRINH BẠCH王貞白

Vương Trinh Bạch 王貞白 (875-?) tự Hữu Đạo 有道, người Vĩnh Phong 永豐, đỗ tiến sĩ năm Càn Ninh thứ 2 (986) đời Đường.

涼州行 -王貞白

西



調



 

Phiên âm: 

Lương Châu hành – Vương Trinh Bạch

Thuỳ xướng Quan Tây khúc,
Tịch mịch dạ cảnh thâm.
Nhất thanh trường tại nhĩ,
Vạn hận trọng kinh tâm.
Điệu cổ thanh phong khởi,
Khúc chung lương nguyệt trầm.
Khước ưng diên thượng khách,
Vị tất thị tri âm.

 

Dịch nghĩa:

Bài hát Lương Châu – Vương Trinh Bạch

Ai ca khúc hát Quan Tây
Cảnh đêm mịt mờ hoang vắng
Bên tai không dứt âm thanh
Trong lòng vạn hờn trĩu nặng
Điệu xưa giục gió trong nổi
Khúc dứt khiến trăng lạnh chìm
Dẫu ai làm khách trên tiệc
Chắc gì hiểu tiếng con tim

 

Dịch thơ:

Bài hát Lương Châu – Vương Trinh Bạch

Ai hát khúc Quan Tây

Cảnh đêm vắng âm thầm

Tai âm thanh không dứt

Lòng vạn hờn lặng câm

Khúc xưa giục gió nổi

Khúc dứt  bóng nguyệt trầm

Ai làm khách trên tiệc

Chắc gì là tri âm.

 

胡笳曲 王貞白








 

Phiên âm: 

Hồ già khúc – Vương Trinh Bạch

Lũng để bi già dẫn,
Lũng đầu minh bắc phong.
Nhất luân sương nguyệt lạc,
Vạn lý tái thiên không.
Thú tốt lệ ưng tận,
Hồ nhi khốc vị chung.
Tranh giao Ban Định Viễn,
Bất niệm Ngọc Quan trung.

 


Ban Định Viễn tức Ban Siêu
班超 (32—102), thời Đông Hán đóng giữ Tây Vực (Tân Cương hiện nay) 30 năm, được phong chức Định Viễn hầu, đến già dâng sớ xin về trong Ngọc Môn quan, nhưng hai năm sau mới được Hán Hoà Đế cho về.

  

Dịch nghĩa:

Khúc sáo Hồ già Vương Trinh Bạch

Dưới đáy Lũng tiếng Hồ già buồn thổi
Nơi Lũng đầu gió bấc nổi vi vu
Một vầng trăng trong sương lạnh chìm rồi
Trời quan ải vạn dặm dài rỗng tuếch
Lính biên thú nước mắt chừng sắp hết
Trai trẻ Hồ còn khóc mãi không thôi
Lệnh truyền cho Ban Định Viễn than ôi
Trong ải Ngọc đừng nhớ nhung gì cả

 

Dịch thơ:

Khúc sáo Hồ già Vương Trinh Bạch

Hồ già buồn đáy Lũng

Đầu Lũng gió mịt mùng

Vầng trăng chìm sương lạnh

Vạn dặm ải thiên không

Lính thú lệ sắp hết

Trai Hồ khóc không ngừng

Lệnh truyền Ban Định Viễn

ẢI Ngọc đừng nhớ nhung.

 

 

NHÀ THƠ CAO BIỀN

 

Cao Biền 高駢 (821-887) tự Thiên Lý 千里, tướng đời Hậu Đường, cháu của Nam Bình đô vương Cao Sùng Văn (tướng cấm quân dưới triều vua Đường Hiến Tông Lý Thuần).
Đầu đời vua Ý Tông, Cao Biền trấn giữ biên cương chống sự xâm lược của giặc Thổ Phồn
吐蕃. Năm Cảm Thông thứ 7 (866), Cao Biền trấn giữ An Nam, làm Tĩnh hải quân tiết độ sứ. Năm Càn Phù thứ 2 (875) đời Hy Tông, chuyển sang trấn giữ Tây Xuyên.

 

 

高駢

使


 

Tái thượng ký gia huynh – Cao Biền

Lệ ngạc phân trương tín sứ hy,
Kỷ đa hương lệ thấp chinh y.
Già thanh vị đoạn trường tiên đoạn,
Vạn lý Hồ thiên điểu bất phi.

 

Dịch nghĩa:

Ngoài ải gửi anh trai – Cao Biền

Anh em mình cách xa nhau, tin tức vắng
Bao nhiêu nước mắt nhớ quê làm ướt áo trận
Tiếng kèn lá chưa dứt hồn đã dứt
Trời Hồ muôn dặm không có bóng chim bay

 

Dịch thơ:

Ngoài ải gửi anh trai – Cao Biền

 Anh em mình xa cách bấy lâu

Nước mắt nhớ quê, áo trận nhàu

Chưa dứt tiếng kèn hồn đã đoạn

Trời Hồ muôn dặm bóng chim đâu?

 

 

高駢




 

Phiên âm:

Đối tuyết – Cao Biền

Lục xuất phi hoa nhập hộ thì,
Toạ khan thanh trúc biến quỳnh chi.
Như kim hảo thướng cao lâu vọng,
Cái tận nhân gian ác lộ kỳ.

 

Dịch nghĩa:

 Trước cảnh tuyết – Cao Biền

Hoa tuyết sáu cánh bay lất phất vào trong nhà
Ngồi nhìn cây trúc xanh biến thành quỳnh trắng
Hôm nay thích lên lầu cao mà ngắm cảnh
Ở nhân gian tuyết phủ đầy các hang cùng ngõ ngách.

 

 

Dịch nghĩa:

 Trước cảnh tuyết – Cao Biền

Hoa tuyết bay lất phất vào nhà

Nhìn xanh cây trúc hóa quỳnh hoa

Hôm nay thích lên lầu ngắm cảnh

Tuyết đầy ngõ ngách khắp xứ ta.

 

  高駢




 

Phiên âm: 

Khuê oán – Cao Biền

Nhân thế bi hoan bất khả tri,
Phu quân sơ phá Hắc Sơn quy.
Như kim hữu hiến chinh nam sách,
Tảo vãn thôi phùng đới hiệu y.

 

Dịch thơ:

NỖI OÁN PHÒNG KHUÊ – Cao Biền

Vui buồn nhân thế có biết chi

Chàng phá Hắc Sơn mới trở về

Nay lại Nam chinh dâng kế sách

Sớm hôm cứ giục may chinh y. 

 



高駢




滿

 

 Phiên âm:

Phỏng ẩn giả bất ngộ - Cao Biền

Lạc hoa lưu thuỷ nhận Thiên Thai,
Bán tuý nhàn ngâm độc tự lai.
Trù trướng tiên ông hà xứ khứ,
Mãn đình hồng hạnh bích đào khai.

 

Dịch thơ:

Đến thăm người ở ẩn không gặp – Cao Biền

Hoa rơi nước chảy ở Thiên Thai
Say rượu ngâm thơ đến cùng ai
 Buồn bã tiên ông đi đâu vắng
Đầy sân hồng hạnh bích đào khai

 

 

 

高駢




 

Phiên âm:

Phó An Nam khước ký đài ty – Cao Biền

Tằng khu vạn mã thướng Thiên San,
Phong khứ vân hồi khoảnh khắc gian.
Kim nhật Hải Môn Nam quốc sự,
Mạc giao hoàn tự Phụng Lâm quan.

 


Bài này được làm trong giai đoạn 864-875 khi tác giả làm Chinh nam tướng quân. Đài ty là một chức quan nhỏ. An Nam là vùng đất chỉ nước Việt Nam trong thời kỳ bắc thuộc.

 

Dịch thơ: 

Gửi viên đài ty đi An Nam – Cao Biền

  Từng ruổi vạn mã tới Thiên Sơn

Thoáng chốc gió núi gặp mây ngàn

Hôm nay chuyện  Hải Môn Nam quốc

Xin anh đừng nhớ Phụng Lâm quan

 

Bản dịch của Vũ Minh Tân

Lên Thiên Sơn anh từng ruổi ngựa
Thoáng chốc mây gặp gió mây tan
Nay xuôi cửa biển nước Nam
Xin anh nhớ chuyện Phụng Lâm độ nào