*NNK 2- Dịch Thơ Của Nhà Thơ Mạnh Giao (Thơ Dịch) Nguyễn Ngọc Kiên (Hà Nội- VN)

 

Nhà Thơ Nguyễn Ngọc Kiên

 

 

NHÀ THƠ MẠNH GIAO

Nguyễn Ngọc Kiên dịch thơ

 

Mạnh Giao 孟郊 (751-814) tự Đông Dã 東野, người Vũ Khang, Hồ Châu (nay là huyện Vũ Khang, tỉnh Chiết Giang) thời Trung Đường, cùng thời với Bạch Cư Dị, Hàn Dũ, Giả Đảo, Thường Kiến, Thôi Hộ... Ông công danh khá lận đận, đi thi nhiều lần không đỗ, mãi đến năm 46 tuổi mới đỗ tiến sĩ và năm 50 tuổi mới được bổ làm huyện uý Lật Dương (tỉnh Giang Tô), một chức quan nhỏ mà ông không màng tha thiết. Cảnh nhà nghèo túng quẫn, cuộc đời không lấy gì vui, nên thơ của ông thường châm biếm chê bai giới quý tộc quan liêu, lột tả nỗi niềm ta oán của giới trí thức không gặp thời như cảnh ngộ của ông, hoặc nỗi bất công của những người dân nghèo lao động tay lấm chân bùn.

Tác phẩm của ông còn lưu truyền cho hậu thế là Mạnh Đông Dã gồm 2 quyển. Thơ của ông gồm khoảng hơn bốn trăm bài nhạc phủ và cổ thi…

 

                                                 Theo thivien.net

 

 




 

Phiên âm: 

CỔ BIỆT LI

Dục biệt khiên lang y,
Lang kim đáo hà xứ.
Bất hận quy lai trì,
Mạc hướng Lâm Cùng khứ.

 

Dịch nghĩa:

BIỆT LI XƯA

Sắp chia tay, níu áo chàng,
(Hỏi) chàng giờ đi đến nơi nào.
Em không giận anh về muộn,
(Chỉ xin chàng) đừng đi đến đất Lâm Cùng.

 

Dịch thơ:

BIỆT LI XƯA

Lúc chia tay níu áo chàng

Hỏi chàng giờ sắp đi sang nơi nào?

Về muộn nàng chẳng giận sao,

Lâm Cùng đất ấy chớ vào chàng ơi!

 

 








 

Phiên âm:

CỔ OÁN BIỆT

Táp táp thu phong sinh,
Sầu nhân oán ly biệt.
Hàm tình lưỡng tương hướng,
Dục ngữ khí tiên yết.
Tâm khúc thiên vạn đoan,
Bi lai khước nan thuyết.
Biệt hậu duy sở tư,
Thiên nhai cộng minh nguyệt.

 

Dịch nghĩa:

NÔI OÁN BIỆT LI XƯA

Gió thu nổi gấp gấp
Người buồn oán hờn vì ly biệt.
Chan chứa tình khi đối diện nhau,
Muốn nói đã nghẹn lời.
Lòng cuộn ngàn muôn mối,
Buồn khổ mà khó nói thành lời.
Chia tay rồi chỉ còn nỗi nhớ,
Hai phương trời cùng chung một ánh trăng.

 


Trong "100 bài thơ tình Trung Hoa" có ghi bài này của tác giả Trương Tịch, nhưng trong các tài liệu của Trung Quốc, bao gồm cả "Toàn Đường thi", đều ghi bài thơ này của Mạnh Giao, còn có tên "Cổ biệt khúc".

 

Dịch nghĩa:

NÔI OÁN BIỆT LI XƯA

 Gió thu thổi thê thiết

Người buồn oán li biệt

Nhìn nhau tình chứa chan

Mà nghẹn ngào khôn xiết

Lòng trăm mối tơ vò

Nói sao lúc li biệt

 Chia tay lòng nhớ nhung.
Chỉ chung vầng trăng khuyết.

 

 






 

Phiên âm:

 DU TỬ NGÂM

Từ mẫu thủ trung tuyến,
Du tử thân thượng y.
Lâm hành mật mật phùng,
Ý khủng trì trì quy.
Thuỳ ngôn thốn thảo tâm,
Báo đắc tam xuân huy.

 

Dịch nghĩa:

KHÚC NGÂM CỦA  ĐỨA CON ĐI XA

Sợi chỉ trong tay mẹ hiền,
Nay đang ở trên áo người đi xa.
Lúc mới lên đường, mẹ khâu kỹ càng,
Có ý sợ con chậm trễ trở về.
Ai dám nói rằng tấm lòng của một tấc cỏ,
Lại có thể báo đáp được ánh nắng của ba xuân?

 

Dịch thơ:

KHÚC NGÂM CỦA  ĐỨA CON ĐI XA

Mẹ hiền sợi chỉ trong tay

Đang  mang trên áo con nay xa rồi

Lên đường khâu kĩ con ơi

Sợ con về trễ mẹ  thời lo âu

Dám rằng một tấc cỏ rầu

Làm sao báo đáp nắng đầu ba xuân!

 

 

 




 

Phiên âm:

ĐĂNG KHOA HẬU

Tích nhật ác xúc bất túc khoa,
Kim triêu phóng đãng tứ vô nhai.
Xuân phong đắc ý mã đề tật,
Nhất nhật khán tận Trường An hoa.

 

Dịch nghĩa:

SAU KHI THI ĐỖ

Ngày trước biết bao cay đắng không sao nói hết,
Sáng nay ưu phiền tan biến, tâm tư không còn gì câu thúc.
Ngọn gió xuân mát rượi, leo lên ngựa phóng đi,
Trong ngày đi xem tất cả các vườn hoa trong Trường An.

 

 


Tác giả thi hỏng 2 lần, lần thứ 3 năm 796 đỗ tiến sĩ.

 

 

 Dịch thơ:

SAU KHI THI ĐỖ

Cay đắng ngày xưa chẳng nói ra

Sáng nay thỏa chí nức lòng ta

Gió xuân rười rượi lên phi ngựa

Ngày ở Trường An xem hết hoa

 

 

,

,

 

Phiên âm: 

Hí tặng Lục đại phu thập nhị trượng kỳ 1

Liên tử bất khả đắc,
Liên hoa sinh thuỷ trung.
Do thắng đạo bàng liễu,
Vô sự đãng đông phong.

 

Dịch nghĩa:

BỠN TẶNG ĐAI PHU HỌ LỤC THỨ MƯỜI HAI KÌ 1

Quả sen không lấy được,
Dù hoa sen trong nước mọc ra.
Còn hơn hoa liễu bên đường,
Cứ vô tư lay động trong gió đông.

 


Tiêu đề có bản chép thêm hai chữ “Nhạc phủ” ở trước. Lục đại phu thập nhị trượng tức Lục Trường Nguyên (?-799), tự Vịnh, quê Ngô Quận, là cháu nội của Lục Dư Khánh - cả hai được ghi tiểu sử trong Đường thư.

Lục Trường Nguyện đáp lại bài này:

Phù dung sơ xuất thuỷ,
Hạm đạm lộ trung hoa.
Phong xuy trước khô mộc,
Vô nại trị không tra.

Nguồn: Toàn Đường tuyệt cú tuyển thích, Lý Trường Lộ, Bắc Kinh xuất bản xã, 1995

 

Dịch thơ:

BỠN TẶNG ĐAI PHU HỌ LỤC THỨ MƯỜI HAI KÌ 1

Quả sen ngon mà không lấy được
Dù hoa sen trong nước trồi ra
Hơn bên đường liễu những hoa
Vô tư lay động trước là gió đông.

 

 

 




 

 Phiên âm:

Hí tặng Lục đại phu thập nhị trượng kỳ 3

Liên diệp vị khai thì,
Khổ tâm chung nhật quyển.
Xuân thuỷ đồ đãng dạng,
Hà hoa vị khai triển.

 

Dịch nghĩa:

 BỠN TẶNG ĐAI PHU HỌ LỤC THỨ MƯỜI HAI KÌ 3

 

Lá sen lúc chưa mở,
Cả ngày khổ tâm vì bị cuốn lại.
Nước xuân nổi sóng,
Mà hoa sen vẫn chưa nở.

 


Nguồn: Toàn Đường tuyệt cú tuyển thích, Lý Trường Lộ, Bắc Kinh xuất bản xã, 1995

 

 Dịch thơ:

BỠN TẶNG ĐẠI PHU HỌ LỤC THỨ MƯỜI HAI KÌ 3

Lá sen lúc chưa mở,
Ngày khổ tâm bị cuốn.
Nước xuân đã nổi sóng,
Mà sen vẫn chưa nở

 

 






 

Phiên âm: 

LIỆT NỮ THÁO

Ngô đồng tương đãi lão,
Uyên ương hội song tử.
Trinh phụ quý tuẫn phu,
Xả sinh diệc như thử.
Ba lan thệ bất khởi,
Thiếp tâm tỉnh trung thuỷ.

 

Dịch nghĩa:

TIẾT THÁO CỦA NGƯỜI LIỆT NỮ

Cây ngô đồng chờ đợi nhau đến già.
Chim uyên ương chết cũng chung đôi.
Người trinh phụ quý trọng việc chết theo chồng,
Cũng có thể hy sinh mạng sống của mình như thế.
Thề rằng lòng em không nổi sóng,
Cũng như nước trong giếng kia.

 

Dịch thơ:

TIẾT THÁO CỦA NGƯỜI LIỆT NỮ

Ngô đồng đợi nhau đến già

Uyên ương đến chết cũng là chung đôi

Trinh phụ đến chết chẳng rời

Theo chồng đến thế thì thôi quên mình

 Lòng em chẳng nổi sóng duềnh

Cũng như nước mát trong lành giếng khơi!

 

 




 

Phiên âm:

CỔ Ý

Hà biên Chức Nữ tinh,
Hà bạn khiên Ngưu Lang.
Vị đắc độ thanh thiển,
Tương đối dao tương vọng.

 

Dịch nghĩa:

Ý XƯA

Chức Nữ ở bên này bờ sông,
Ngưu Lang bị dẫn dắt ở bờ bên kia.
Họ chưa qua được dòng sông trong và cạn này,
Tương đối, họ phải ngóng nhau từ khá xa.

 

Dịch thơ:

Ý XƯA

Chức Nữ  ở bên kia sông

Ngưu Lang bị dẫn mà trông bên này.

Họ chưa qua được sông gầy

 

Tương đối họ phải từ rày ngóng nhau!

Kommentar schreiben

Kommentare: 0