Nhà Văn Điệp Mỹ Linh

 

 

 

NỖI ĐAU CỦA MẸ

 

 

 Từ khách sạn bước ra, Ninh – hướng dẫn viên du lịch – phát ngôn bằng tiếng Anh:

- Xin quý vị vui lòng đợi thêm giây lát.

Không ai đáp lời Ninh. Ninh trở lại khách sạn. Nhìn theo Ninh, Bảo-Trân mới để ý đến một hàng bán bánh cuốn ngay trên lề đường, cách khách sạn một căn nhà ngói, mái đã chùng xuống thật thấp. Phía bên kia khách sạn là một tiệm ăn lụp xụp. Bên trong chỉ vài chiếc bàn gỗ cũ kỹ và mấy cái ghế đẩu bằng nhựa, thấp lè tè. Vì trước tiệm không có bảng hiệu, Bảo-Trân không biết tiệm ấy bán những gì. Bất ngờ, từ trong tiệm, một người đàn bà đứng tuổi, mình khoác chiếc áo len màu nâu sậm, đầu chít khăn mỏ quạ, bưng một xô nước đổ tạt ra lề đường rồi quày quả đi vào. Sau khi nước chảy xuống lề đường, Bảo-Trân thấy mấy cọng phở vụn nằm chơ hơ trên vỉa hè. Lúc này Bảo-Trân mới thấy, dọc lề đường, lẫn với rác rến, là một dòng nước đen ngòm, trông có vẻ sền sệt.

Người đàn bà lúc nãy trở ra, tay cầm cái chổi nhỏ, hơi khom người, quét nhè nhẹ trong dòng nước sền sệt. Từ nãy giờ dòng nước đọng nên không bốc mùi. Bây giờ, trong khi người đàn bà quét, lùa rác đến ranh giới giữa tiệm phở và minikhách sạn thì những người trên xe kín đáo bịt mũi và miệng để tránh bớt mùi hôi do dòng nước bẩn bị khuấy động, bốc lên. Vài người ngoại quốc đề nghị anh tài xế đóng cửa xe lại, mở máy lạnh; nhưng anh không hiểu, chỉ cười. Bảo-Trân muốn phiên dịch giùm, nhưng lại ngại.

Ninh trở ra với nhóm nhỏ người ngoại quốc. Chủ khách sạn bước theo, nói với Ninh những câu khôi hài có tính cách nịnh bợ. Bất ngờ chủ khách sạn nhìn về hướng tiệm phở, giọng hách dịch:

- Này! Ðã bảo mãi mà tại sao sáng nào cũng quét rác tấp sang đây, hả?

Người đàn bà đứng tuổi cũng không vừa:

- Bảo ai mà bảo mãi? Rác trước nhà tôi, tôi quét, anh làm gì được tôi nào?

Dựa vào chức vụ của ông Bố, chủ khách sạn nói hơi lớn, với mục đích cho Ninh và mấy người trong tiệm phở cùng nghe:

- Làm gì hay không rồi sẽ biết. Chua ngoa thế đấy mà hễ thấy ông cụ tôi đến là miệng lưỡi dẽo queo, bẩm thượng tá này, bẩm thượng tá nọ.

Nói xong chủ khách sạn quay sang Ninh, cười hềnh hệch. Giọng lanh lảnh của người đàn bà đáp lời chủ khách sạn vang lên, Bảo-Trân chưa kịp nghe thì đã thấy một người đàn bà khác nơi hàng bún chả, sát vách với tiệm phở, cũng đang lum khum quét trong dòng nước tanh hôi. Bảo-Trân nhìn sang bên kia đường, cũng thấy cảnh quét lề đường diễn ra trước mỗi hàng ăn. Lúc này Bảo-Trân mới hiểu xuất xứ của những khóm rác nho nhỏ bên tất cả mọi lề đường ở Hà-Nội.

Xe chạy trên những con đường bẩn và hẹp của một Hà-Nội đang hồi sinh. Xe qua phố Hàng-Da, đến phố Hàng-Ðào qua Bác-Sứ, v. v... Lúc này Bảo-Trân mới nghiệm ra rằng “phố” không có nghĩa là một khu vực nhỏ, như Saigon có Thủ-Thiêm, Chợ-Lớn, Bà-Quẹo, v. v... mà ở đây, “phố” chỉ là một con đường. Dọc theo hè phố, số lượng quán cốc và hàng ăn tương đương với những khóm rác nhỏ trong dòng nước tanh hôi.

Nhìn vẻ xô bồ nhưng không nhộn nhịp của Hà-Nội vào một sáng trời trong và mát, Bảo-Trân cảm thấy dễ chịu hơn là không khí ngột ngạt và tiếng động cơ cùng mùi dầu cặn thoát ra từ “rừng” xe gắn máy ở Saigon. Tại Hà-Nội, thỉnh thoảng, trong từng đoàn xe đạp tiếp nối nhau, Bảo-Trân mới thấy vài chiếc xe gắn máy. Ðàn bà ở đây cũng đi xe gắn máy và xe đạp; nhưng rất ít bà mang bao tay quá khuỷu tay như đàn bà Saigon. Ngoài sự khác biệt đó, Bảo-Trân còn thấy như thiếu vắng một cái gì. A, phải rồi, thiếu bóng dáng của những người ăn xin và cũng không có thương phế binh đi khất thực trước mỗi hàng ăn hoặc quanh khu vực thương mại. Thay vào hình ảnh khốn khổ ấy là từng nhóm trẻ em tung tăng đến trường. Nhiều em còn mặc quần Jeans, áo loại baggy rộng thùng thình, hai tay áo dài lòng thòng. Sau lưng mỗi em là một cái ba-lô nhỏ, bằng ny-lông màu, loại bán tại K-Mart, Target hoặc Walmart. Nếu không có vô số xe đạp, xe xích lô, xe gắn máy và những khóm rác dọc theo dòng nước đọng, có lẽ Bảo-Trân tưởng nàng đang nhìn mấy em học sinh Á-Ðông tại Hoa-Kỳ.

Sau khi lòn lách qua không biết bao nhiêu là xe đạp và xe gắn máy, cuối cùng chiếc xe buýt cũng ra đến được ngoại ô Hà-Nội. Theo đà dằn xóc của chiếc xe, bụi đất bắt đầu bốc lên cuồn cuộn, nhưng vẫn không làm mờ được những tấm bảng hiệu sặc sỡ của mấy quán thịt chó. Vài quán còn viết rành rẽ quán-cầy-tơ chứ không cần phải nói lái như người trong Nam.

Xe chạy dọc theo bờ đê mà, ở những đoạn bờ đê thấp hoặc bị vỡ, Bảo-Trân nhìn vào, không thấy nước trong lòng sông, chỉ thấy cây bắp và vài loại rau cải. Bảo-Trân khoèo vai Ninh, hỏi nhỏ:

- Ðây là sông gì, Ninh?

- Dạ, đây là sông Hồng.

Thốt nhiên Bảo-Trân cảm thấy xúc động một cách nhẹ nhàng. Thì ra dòng sông đã gieo cảm hứng cho không biết bao nhiêu nghệ sĩ di cư là dòng sông này! Bảo-Trân chỉ ra bờ đê:

- Tại sao người ta lại trồng hoa màu trong lòng sông, nhỡ nước lên thì sao? 

- Dạ, ở đây đất hiếm và dân nghèo lắm. Họ trồng theo mùa. Họ phải tính làm sao khi vừa thu hoặch hoa màu xong thì đúng vào mùa nước lớn.

- Nếu vậy, sang năm, đến khi nước ròng, làm sao họ biết được khu vực nào thuộc về họ?

- Dạ, họ cắm sào, đánh dấu cả đấy.

Bảo-Trân im lặng, cảm thương cho cảnh nghèo của những người đã một thời được tuyên truyền để tin tưởng rằng sau khi “giải phóng” được miền Nam, cuộc sống sẽ khá hơn, vì xã hội sẽ không còn giai cấp nữa!

Xe qua một “ổ gà” lớn bằng cái nia. Hầu như mọi người trong xe đều bị hất mạnh lên rồi bị rơi lại ngay lòng ghế. Ninh vịn thành ghế cho thân người bớt chao đảo rồi nhìn Bảo-Trân, cười. Bảo-Trân hỏi:

- Nếu cô muốn đi xem năm cửa ô thì phải đi tours nào, Ninh?

- Dạ, đâu còn gì nữa mà xem, cô.

- Tại sao? Cô nghĩ đó là di tích lịch sử mà.

- Dạ, chỉ còn ô Quang-Chưởng thôi; còn mấy ô khác đều bị đập phá để xây cao ốc.

Bảo-Trân im lặng, cảm thấy bất bình, nhưng không biết vì cái gì và vì ai!

Ðến một đoạn đường rất hẹp, chỉ vừa cho hai chiếc xe nhỏ tránh nhau, xe phải dừng lại, vì phía trước, cả một đoàn xe không di động. Ninh xuống xe, bước về phía trước. Một lúc sau Ninh trở lại, cho biết những xe nhỏ có thể vòng vào làng, đi đường tắt, đường chính bị hư hại nặng, không xử dụng được.

Xe chạy rất chậm trên con đường làng bằng đất. Bụi tung mịt mù. Khi xe chạy ngang ngôi chợ nhỏ đầy ruồi và rác, bụi cũng vẫn quây kín lấy xe, Bảo-Trân thấy những hàng thức ăn hay hàng bán thịt được người bán vội vàng cầm chiếc nón quạt thật nhanh như muốn bảo vệ tý thực phẩm bớt phần ô nhiễm. Chiếc xe len lỏi trên con đường quanh co, giữa những mái tranh thấp lè tè. Trẻ em đứng trên thềm nhà bằng đất, vừa chỉ chỏ ra xe vừa reo cười. Trước sân và bên hè của mỗi căn nhà, Bảo-Trân thấy những luống rau èo uột. Cải tần ô và cải bẹ xanh có cây đang trổ ngồng, có cây khoe những cành hoa nhỏ tý, màu vàng nhạt. Vài bé gái bồng em, đứng bên mấy luống rau, cũng vừa chỉ theo chiếc xe vừa trầm trồ.

Hình ảnh mấy em bé gái rụt rè bên mấy luống rau cải bất chợt gợi nơi lòng Bảo-Trân những ngày xa xăm nơi làng Sơn-Tịnh; chỉ khác một điều, mấy em bé này trầm trồ khi thấy chiếc xe hơi, còn ngày xưa bé Bảo-Trân lại lấy làm lạ khi thấy con bò và chiếc xe bò!

Xe qua khỏi ngôi làng, sắp vào đường chính. Bảo-Trân thấy vài người đàn bà, trong khi lui cui bên ao rau muống hoặc bên vườn khoai môn, khoai mì, khoai lang, đều đeo con trước ngực hoặc sau lưng bằng tấm vải cũ. Bảo-Trân thở dài. Cuối thế kỷ hai mươi rồi mà thân phận người phụ nữ Việt-Nam vẫn cứ mãi như vậy sao!

Dọc con đường chỉ còn trơ đá và đất bủn, thỉnh thoảng Bảo-Trân thấy từng đụn đá, loại dùng để làm đường, nằm chơ vơ bên lề đường. Bảo-Trân hơi chồm lên ghế trước, khẽ hỏi:

- Ninh ơi! Ðá đổ ven đường mà tại sao đường không được sửa ?

- Cô nhìn vào nhà dân mà xem. Nhà nào cũng lấy đá vào làm sân, làm nền nhà nên đá không đủ để làm đường.

- Ăn cắp của công không bị rắc rối à?

- Rắc rối gì, cô. Người ăn cắp là dân địa phương. Công an cũng dân địa phương, chỉ một chầu nhậu là xong tuốt.

Bảo-Trân cười thầm. Người mình ở đâu cũng vậy cả.

Xe vào một ngôi làng cạnh con sông nhỏ rồi dừng lại bên bờ sông. Bờ sông là hai bờ đê cao, che khuất cả những thuở ruộng dọc hai bên dòng sông. Bờ bên phải là một khách sạn nhiều tầng, do công đoàn quản lý. Bờ bên trái là minikhách sạn của tư nhân. Sau khi mọi người rời xe, Ninh dõng dạc, bằng Anh ngữ:

- Thưa quý bà, quý ông, đây là Bến-Ðục, cũng được gọi là Bến-Xuồng-Sắt. Xin mời quý vị đến bờ sông, cứ ba người ngồi một xuồng.

Thấy mỗi chiếc xuồng nhỏ xíu - Bảo-Trân thích gọi là thuyền cho có vẻ nên thơ - được hàn lại bằng ba mảnh sắt và do một em bé gái trạc mười bảy, mười tám tuổi ngồi cạnh mái chèo, nhiều du khách ngoại quốc nhìn nhau, dáng e ngại. Nhưng khi nhìn dòng sông cạn dày đặc cỏ tóc tiên, mọi người có vẻ bớt lo, lẳng lặng bước xuống. Vài chiếc thuyền đủ khách, bắt đầu rời bến. Bất ngờ Bảo-Trân nghe tiếng Ninh từ bờ sông:

- Cô ơi, cô! Cô làm ơn nói cho người này biết cô là người Việt đi.

Trước khi xuống thuyền, Bảo-Trân thấy tấm bảng ghi giá vé dành cho mỗi du khách ngoại quốc, hoặc người Việt từ nước ngoài về, là bảy mươi lăm ngàn và giá cho mỗi người Việt trong nước là mười lăm ngàn. Biết Ninh khai gian, nhưng mặc, Bảo-Trân vẫy tay:

- Tôi là người Việt đây.

Bảo-Trân không nghe được gì nữa, vì chiếc thuyền chở nàng đã rời bến được một đoạn khá xa. Hai thanh niên ngoại quốc ngồi cùng thuyền với Bảo-Trân nhìn nàng, mỉm cười. Bảo-Trân cũng mỉm cười, nói “Hi.”

Lúc này Bảo-Trân mới để ý, phía sau thuyền, ngoài cô lái đò còn có một bé trai khoảng hơn mười tuổi, gương mặt rất kháu khỉnh. Bảo-Trân gợi chuyện với bé trai:

- Này, em! Em tên chi?

- Dạ, cháu tên Nuận.

- Nuận cũng đi chùa Hương à?

- Dạ, cháu tên Nuận ạ.

- Vâng, thì cô gọi em là Nuận mà.

Cậu bé cười ngặc ngoẽo:

- Dạ không phải Nuận. Tên cháu nà Nuận như ný nuận đấy.

- Ô, cô xin lỗi. Tên em là Luận, đúng không?

- Dạ, đúng ạ.

Luận chỉ vào bình ny-lông nhỏ, tiếp:

- Thưa cô, cháu đi chùa Hương; nhưng không phải đi để ngoạn cảnh mà đi để bán mấy thứ này này. Cô mua hộ cháu một lon, nhá.

- Ðể tý nữa cô mua. Bây giờ cô chưa khát.

- Cô nhớ mua của cháu chứ đừng mua của mấy đứa kia, nhá.

Vừa nói Luận vừa khoát tay về mấy chiếc thuyền chung quanh. Nhìn theo tay Luận Bảo-Trân mới thấy hầu như trên mỗi chiếc thuyền đều có một cậu bé bán nước giải khát.

Tiếng mấy cậu bé dưới thuyền gọi vọng lên và mấy cô cậu bé đang chạy dọc bờ đê đáp lại nghe như mơ hồ, như lạc lõng trong không gian đậm đặc hơi nước. Theo từng gợn sóng nhẹ, do mái chèo khuấy nước tạo nên, hình ảnh mấy cô cậu bé đang chạy trên bờ đê phản chiếu trên mặt nước, trở nên lung linh, chập chờn trong màu xanh biếc của cỏ tóc tiên.

Xa xa, vài chiếc thuyền nan trôi chầm chậm. Trên mỗi chiếc thuyền, Bảo-Trân thấy hai bé gái, một cô giữ mái chèo, cô kia dùng cặp cây dài khuấy vào lòng nước, lâu lâu vớt lên một mớ thực vật màu xanh. Bảo-Trân chỉ mấy chiếc thuyền ấy, hỏi Luận:

- Luận à! Mấy cô ấy đang làm gì vậy, em?

- Dạ, họ vớt tóc tiên về cho heo ăn.

Thấy Luận nói năng lễ phép, Bảo-Trân làm thân:

- Luận có đi học không?

- Dạ, hồi lâu rồi cháu có đi học. Bây giờ thì không.

- Tại sao vậy? Luận ở nhà buôn bán, phụ giúp bố mẹ, phải không?

Cô lái đò cười thành tiếng, chen vào câu chuyện:

- Thằng ấy mà phụ ai, cô. Nó phá như quỷ đấy.

Biết cô gái đùa, Bảo-Trân cười, nhìn cô:

- Còn em? Cỡ tuổi em có lẽ em đang học trung học, phải không?

Cô gái có vẻ ngường ngượng, buồn buồn:

- Ở đây làm gì có trường trung học mà học, cô.

- Nếu có, em có được học tiếp không?

- Dạ, chắc không đâu, cô. Hồi đó bố mẹ em làm nghề nông; rồi bố em tham gia đánh Mỹ kíu nước. Sau đó bố em phục viên, trở lại nghề nông; mà nghề nông làm sao gia đình đông anh em sống nổi, nên em phải đi làm giúp bố mẹ.

Bảo-Trân nhìn sang Luận:

- Còn Luận thì sao?

- Dạ, dạo trước cháu học lớp năm. Nhưng trường ốc mục nát, không ai sửa chữa. Cách nay mấy tháng trường sập, đè chết mấy đứa học sinh nên bố mẹ cháu và bố mẹ mấy đứa đó - Luận chỉ nhóm trẻ em trên bờ đê và mấy cậu bé trên mấy chiếc thuyền chung quanh - sợ, bắt chúng cháu ở nhà.

- Nếu vậy, khi nào trường sửa xong Luận đi học lại chứ?

- Dạ thôi. Bố mẹ cháu bảo học cho lắm như mấy anh chị ở Hà-Nội rồi cũng chả làm nên trò trống gì; học thêm vài năm nữa ích lợi gì đâu.

Trong khi Bảo-Trân thầm xót xa cho mấy em bé dễ thương này thì Luận và cô lái đò lại không tỏ ra một chút tiếc nuối nào cho sự đứt đoạn học vấn cả. Bảo-Trân nhìn Luận:

- Em bán như thế này mỗi ngày em lời được bao nhiêu, Luận?

- Dạ, khoảng mười, mười mấy nghìn, tùy theo thời tiết.

Bảo-Trân quay sang cô lái đò:

- Còn em, mỗi ngày em được trả bao nhiêu?

- Dạ, sáng, em chèo vào trong ấy, ở đấy chờ; chiều em chèo ra. Mỗi ngày em được trả mười nghìn.

Một tích tắc tính nhẩm, Bảo-Trân biết mười nghìn tiền Việt chỉ tương đương khoảng mười xu (cents) tiền Mỹ. Bảo-Trân đâm ra hoài nghi, không nghĩ rằng nàng đã nghe đúng nên nhìn cô lái đò:

- Mười ngàn tiền Việt-Nam, phải không, em?

- Ối giời! Chúng em chỉ biết tiền mình thôi chứ làm sao biết được tiền nước khác, cô.

Trong khi Bảo-Trân hơi ngượng cho sự vô ý của nàng thì cô lái đò cho chiếc thuyền chuyển hướng thật nhanh rồi tấp vào bờ. Bảo-Trân ngạc nhiên khi thấy những thuyền khác cũng tấp vào và nhiều du khách đang rời thuyền. Bảo-Trân chưa kịp hỏi, Luận đã cầm tay nàng:

- Chờ hai thằng Tây này xuống rồi mình đi, cô.

Nhìn nơi thuyền cập bến, chỉ thấy vài cây cổ thụ và một ngôi chùa nhỏ, Bảo-Trân thất vọng:

- Trời ơi! Chùa Hương đây sao!

Luận và cô lái đò đều cười. Luận nhảy lên bờ, đưa tay cho Bảo-Trân vịn rồi đáp:

- Dạ không. Ðây là đền Chình.

Bảo-Trân tỏ vẻ không hiểu, Luận tiếp:

- Trước khi vào Chùa Hương, mình phải ghé đây... chình.

Lúc này Bảo-Trân mới hiểu đây là đền Trình. Ði vòng quanh đền, thấy hai thanh niên lúc nãy ngồi cùng thuyền, Bảo-Trân mỉm cười. Một anh hỏi bằng Anh ngữ:

- Xin lỗi, bà nói tiếng Anh được không?

Bảo-Trân gật đầu “Yes”. Thanh niên ấy tiếp:

- Tôi cần một tý nước để uống thuốc. Bà làm ơn hỏi hộ xem quanh đây có ai bán nước giải khát không?

Bảo-Trân chỉ ngay vào thùng ny-lông của Luận. Sau khi bán được hai lon Cokes cho hai thanh niên ngoại quốc với giá đắt gấp mấy lần bán cho người cùng xứ, Luận vui lắm, nắm tay Bảo-Trân: “Ði, cô”. Bảo-Trân bảo:

- Ở đây nhiều bóng mát, ngồi nghỉ một tý đi, Luận. À, hai anh chàng ngồi cùng thuyền đâu phải người Pháp, sao em gọi họ là Tây?

- Dạ, ở đây ai cũng gọi bọn da trắng tóc màu là Tây cả.

Bảo-Trân cười, nhìn quanh cánh đồng loáng thoáng màu mạ non. Bảo-Trân không thấy một cánh chim, một mái nhà hay một loại cây ăn trái nào cả. Ngay như loài thú thân cận nhất với nhà nông là trâu bò mà Bảo-Trân cũng không thấy. Quanh đây, tất cả đều mang một vẻ u tịch như một cơ thể, sau thời gian dài hôn mê, đang chậm chạp có những phản ứng vô thức. Bảo-Trân cảm thấy lòng nàng mềm đi cho chút tình cảm vấn vương chỗi dậy. Chút tình cảm này so ra cũng đâu khác gì tấm lòng nàng đã dành cho làng Sơn-Tịnh và cho vùng kinh- tế-mới xa xôi, nơi đàn em của nàng nương náu hơn hai mươi năm dài!

Rời đền Trình, dòng sông, được mang tên là Suối-Yến, không còn bị gò bó giữa hai bờ đê nữa mà lại lan ra, lan ra mãi đến tận hai sườn núi đá. Dọc theo chân núi đá, hướng tay phải, thỉnh thoảng Bảo-Trân mới thấy vài căn nhà tranh lẻ loi trên những vuông đất hẹp. Nơi những thuở đất hiếm hoi ấy, đôi khi Bảo-Trân cũng thấy vài ngôi mộ được xây bằng xi-măng, nằm sát mí nước, cạnh vườn khoai môn và cách căn chòi tranh chỉ vài thước. Cô lái đò giới thiệu về quê hương của cô:

- Cô ạ, bên phải của dòng sông là đền Ngũ-Nhạc và hang Sơn-Thủy Hữu-Tình; bên trái là Thanh-Sơn Hương-Ðài với tượng Tôn-Ngộ-Không và hai chim đại bàng bằng đá. Tiếc rằng từ đây cô không thể thấy được.

Bảo-Trân không thể thấy được những cảnh sắc thiên nhiên bất động; nhưng, về hướng trái, khoảng cách khá xa, Bảo-Trân lại thấy lác đác từng thân người nhỏ nhắn, đầu đội nón lá, đang lom khom trong dòng nước cạn, cạnh những bờ đất hay vườn khoai môn. Vùng sông này khoảng tháng Ba nước mới rút; lúc ấy nhà nông mới có thể trồng lúa được. Bây giờ họ chỉ chăm sóc vườn khoai môn. Trong khoảng không gian ngập nước giữa những vườn khoai môn, thỉng thoảng Bảo-Trân thấy vài chiếc thuyền nan di động chậm chạp. Trên thuyền, một người đứng, hai tay cầm một cây sào nhỏ, dí dí vào dòng nước. Luận giải thích rằng người ta dùng dòng điện nhẹ để bắt cá. Mỗi ngày, nếu may mắn, một người có thể bắt khoảng vài mươi con cá; con lớn nhất bằng ba ngón tay ghép lại.

Cô lái đò vẫn đều tay chèo. Chiếc thuyền lướt nhẹ trên mặt nước loáng thoáng màu xanh của rong rêu và cỏ tóc tiên, giữa sự vây bọc của hai triền núi mang hình tượng những chú voi già. Trong khung cảnh yên bình, tươi mát này, Bảo-Trân cảm thấy lòng nàng lắng xuống cùng với sự tĩnh lặng của vạn vật chung quanh.

Ðang đắm hồn cùng với thiên nhiên, Bảo-Trân bỗng cảm biết chiếc thuyền dường như trôi nhanh hơn và tiếng mái chèo khuấy nước nghe mạnh và rõ hơn. Nhìn ra sau Bảo-Trân bắt gặp Luận đang chèo nhanh, bằng cả hai mái chèo hai bên thuyền. Thấy ánh mắt ngạc nhiên của Bảo-Trân, cô lái đò cười:

- Chúng nó đua đấy, cô.

Nhìn quanh mấy thuyền khác, Bảo-Trân cũng thấy mấy cậu bé đã dành lấy tay chèo và đang ra sức chèo. Không biết vào những ngày Hội khoảng sông này vui như thế nào; nhưng bây giờ, nhìn hơn hai mươi chiếc thuyền đua nhau trên dòng sông vắng lặng, lòng Bảo-Trân cũng thấy vui vui. Chỉ một lúc sau, Bảo-Trân thấy xa thật xa, màu ngói đỏ của mái chùa Sư-Nữ nổi bật giữa màu xanh thẫm của một hốc núi im lìm.

Tất cả thuyền đều ủi bãi ngay trước hai quán cốc. Mọi người bắt đầu cuộc leo núi để đến Chùa Hương. Bảo-Trân lặng lẽ theo Luận, bước trên đoạn đường khúc khuỷu, được lát bằng những phiến đá không cùng màu, không đồng dạng. Thời gian và bước chân người vô tình đẽo gọt những góc cạnh của đá, chỉ để lại những diện tích nhẵn thín.

Con đường lát đá cứ theo triền núi lên cao dần, cao dần. Từ triền núi nhìn xuống Bảo-Trân chỉ thấy màu đá thẫm chen chúc trong màu xanh biếc của cây rừng. Nhìn sang triền núi đối diện, Bảo-Trân thấy một ngôi chùa nhỏ nằm cheo leo. Tiếng người gọi nhau từ bên ấy vọng sang hòa với tiếng chim lạc đàn nghe xa vắng, nao nao, buồn buồn.

Theo từng bước chân, độ cao tăng dần, tăng dần cùng với hơi thở nặng nhọc thoát ra từ lồng ngực của Bảo-Trân. Hơi mát thoát ra từ lòng núi không đủ làm khô những giọt mồ hôi dưới lằn áo T-shirt. Ðến một lúc, độ cao làm cho Bảo-Trân cảm thấy khó chịu, buồn nôn. Ðang cố cưỡng lại cảm giác ngầy ngật, tự dưng Bảo-Trân nôn nao nhớ đến những chuyến vượt đèo thăm nuôi Hoan, chồng nàng, khi Hoan bị chuyển lên Lạng-Sơn.

Những lần đó, từ trên cao nhìn xuống thung lũng, thấy đoàn người đang chặt nứa hoặc cưa cây, Bảo-Trân chưa kịp nghĩ đến những người tù đang bị đày ải kia thì độ cao đã làm cho nàng chóng mặt, buồn nôn. Cảm giác này cứ kéo dài mãi cho đến khi Bảo-Trân thấy nhân dáng tàn tạ của Hoan từ từ bước về hướng nhà thăm nuôi. Bây giờ, giữa khung cảnh này và phản ứng bất lợi của cơ thể, Bảo-Trân bỗng nhớ thương Hoan và trong lòng nàng dường như không còn chút trách cứ nào về những tệ bạc, phũ phàng mà ngày trước Hoan đã dành cho nàng!

Ðang bị tình cảm chi phối, Bảo-Trân bỗng giật mình vì tiếng Ninh từ một mỏm đá cao:

- Ráng lên, cô. Sắp đến rồi .

Bảo-Trân ngẩng lên nhìn Ninh, cười. Ninh nhảy qua mấy phiến đá thấp, đến cạnh Bảo-Trân, cũng vừa lúc hai thanh niên ngoại quốc ngồi cùng thuyền với Bảo-Trân trờ tới. Một anh vỗ vai Ninh, chỉ xuống thung lũng dưới xa:

- Nhìn kìa. Họ đang làm gì vậy?

Nhìn theo ngón tay trỏ của thanh niên ngoại quốc, Bảo-Trân điều tiết mắt thật kỹ mới thấy được vài người đội nón lá đang lui cui bên khoảnh đất hẹp. Ninh chưa kịp đáp lời thanh niên ngoại quốc, Bảo-Trân đã hỏi, bằng Anh ngữ, để tỏ ra không thiếu phép lích sự đối với hai thanh ngoại quốc:

- Có phải đó là những người tù cải tạo không, Ninh?

Ninh cười, lắc đầu, đáp bằng Anh ngữ:

- Không. Ðó là những người từ ngoài làng vào đào khoai mì.

Bảo-Trân ngạc nhiên:

- Từ ngoài làng vào đây trồng khoai mì? Nhưng đây là núi đá, đâu có đất.

- Tuy là núi đá nhưng dưới xa có vài chỗ có cát chứ ngoài làng làm gì còn đất mà trồng, cô. Ở đây người ta gọi khoai mì là cây cứu đói. Với khoảnh đất tý tẹo ấy mà họ khai thác mỗi năm được hai mùa đó, cô.

- Mỗi mùa họ bán được khoảng bao nhiêu tiền?

- Tùy theo diện tích canh tác của mỗi người. Trung bình họ kiếm khoảng trên mười nghìn một mùa.

Bảo-Trân tròn mắt:

- Lợi nhuận rẻ hơn giá vé người Việt trong nước đi thuyền từ Bến-Ðục vào Chùa Hương; vậy mà họ phải leo qua bao nhiêu núi non rồi xuống vực sâu để trồng trọt; mấy tháng sau lại phải qua những đoạn đường ấy để đào khoai lên, đem đi bán! Trời!...

Nhờ cả hai đối đáp bằng Anh ngữ, hai thanh niên ngoại quốc hiểu được nên nhìn Bảo-Trân, lắc đầu ra vẻ thán phục sự chịu đựng bền bỉ của người dân miền này trong điều kiện địa lý quá khắc nghiệt. Ninh bước đi, đưa tay ra sau ngoắc ngoắc:

- Ði. Sắp đến rồi. Chỉ qua một cái dốc nữa thôi.

Nghe bảo sắp đến, Bảo-Trân hăng hái nắm tay Luận, bước nhanh. Vượt qua nhiều dãy bậc cấp liên tiếp, Bảo-Trân thở một hơi dài khi dừng trước cổng Chùa Hương. Nhìn lại đoạn đường đã đi qua, Bảo-Trân chỉ thấy từng dãy núi chập chùng trong vùng không gian bát ngát, lặng lẽ và yên bình. Nơi thung lũng dưới xa, màu xanh thẫm của cây rừng đã trở nên nhạt dần nhờ ánh sáng dìu dịu của một sáng chớm Ðông. Nhìn vào cổng chùa, Bảo-Trân hơi khựng lại vì chiều sâu, bóng tối và độ ẩm.

Bảo-Trân vịn vai Luận, bước từng bước theo những bậc cấp tối om để xuống vực sâu, tìm đến sự kỳ bí của thiên nhiên. Nhìn ngược lên cổng chùa Bảo-Trân mới nhận biết được rằng cổng chùa được xây trên đỉnh núi cao. Càng xuống sâu bóng tối càng dày và độ ẩm càng tăng. Ðộ ẩm tạo nên một màn sương mỏng phủ lên đôi kính cận khiến mọi vật đều trở nên nhạt nhòa trước mắt Bảo-Trân. Bảo-Trân lấy kính ra lau kỹ, nhưng khi vừa mang vào thì màn sương mỏng lại xuất hiện.

Tuy chỉ thấy lờ mờ nhưng khi được Luận đưa đến bên Hòn-Sữa-Mẹ, Bảo-Trân cũng nhận ra được dòng nước long lanh đang tươm ra từ khối thạch nhũ có hình dáng như phần cuối cùng nơi nhũ hoa của người đàn bà. Từ đây Bảo-Trân nghe tiếng Ninh dẫn giải cho du khách hòa với lời niệm kinh trầm trầm.

Bảo-Trân theo Luận bước xuống mấy bậc cấp thoai thoải để vào sâu trong động. Nơi đây cảnh sắc thâm u. Ngoại trừ những đóm nhang lập lòe trước mỗi bàn thờ, Bảo-Trân không thấy một ánh đèn nào cả, chỉ có màu xám của khói hương chờn vờn. Mùi trầm hương thơm ngát. Nhưng vì bị ứ đọng trong một diện tích nhỏ nhắn và độ ẩm cao, mùi thơm ấy đã tạo nên phản ứng bất lợi cho căn bệnh dị ứng của Bảo-Trân.

Dù bị bệnh dị ứng hành hạ, khi ngồi nghỉ mệt nơi bậc cấp ngoài cửa động, dưới gốc đa già, lòng Bảo-Trân cũng lắng xuống trong vùng không gian êm ả đến độ có thể nghe được tiếng chim chuyền cành. Ngày xưa, khi đến đây, không hiểu Nguyễn-Nhược-Pháp nghĩ gì mà để lại cho đời những dòng thơ trác tuyệt. Nhưng ngày nay, trước sự u tịch đến huyền nhiệm của thiên nhiên, ý nghĩ từ giã cõi phàm để tìm về Ðạo-Pháp lại chỗi dậy trong lòng Bảo-Trân.

Giữa lúc tình cảm đang dằn vặt, Bảo-Trân chợt thấy một cụ bà mặc bộ bà ba trắng, từ trong động chậm chạp bước ra. Màu tóc của cụ giống như màu khói hương. Vừa đi cụ vừa đưa tay áo chậm vào mắt. Bảo-Trân tưởng cụ bị dị ứng như nàng. Nhưng khi cụ đến gần Bảo-Trân mới biết rằng cụ khóc. Cụ không than van bằng lời nhưng nước mắt cứ lặng lẽ tuôn rơi, cụ chậm hoài không hết. Luận kín đáo thì thầm với Bảo-Trân:

- Cô ạ! Cô thấy bà cụ kia không?

Bảo-Trân gật đầu. Luận tiếp:

-Tội nghiệp cụ ấy lắm, cô ơi. Cụ già thế mà cứ rằm, mồng một hoặc các ngày vía lớn là cụ đi Chùa Hương viếng bài vị của người con trai.

- Tội vậy à! Cô mới đi một lần mà cô muốn... chết rồi, làm sao cụ đi hoài, hay vậy?

- Tình thương mà, cô. Khi lòng cô thương ai, cô làm hết mọi thứ trên đời cho người ấy.

Bảo-Trân thoáng giật mình, không ngờ Luận có ý nghĩ sắc bén đến như vậy. Bảo-Trân hỏi, không phải vì tò mò mà chỉ với mục đích kéo dài câu chuyện cho qua khoảng thời gian chờ đợi Ninh cùng nhóm du khách còn viếng cảnh trong động.

- Tại sao người con của cụ chết, Luận biết không?

- Thảm lắm cô ơi! Ở đây ai cũng biết cả, vì bác ấy cùng đơn vị với bố của cô lái đò.

- Vậy chắc ông ấy chết trong Nam, đúng không?

- Cái chết của bác ấy thảm thiết quá, làm cho cả đơn vị mất tinh thần.

Bảo-Trân đâm ra tò mò, nhìn Luận như chờ đợi. Như ngại ai nghe được, Luận nghiêng người gần Bảo-Trân:

- Tổ của bác ấy gồm ba người. Người ta xích tổ của bác ấy ở trên cây để bắn hạ máy bay Ngụy. Hai người kia đều bị máy bay bắn, chết nhanh chóng. Bác ấy bị thương, tuột khỏi thân cây, nhưng một chân vẫn bị xích vào cành cây. Cô thử tưởng tượng, ba thân người bị treo ngược mà một người còn sống, cứ gào thét, van xin, nhưng cả đơn vị quanh đấy không ai làm gì được thì thử hỏi lòng dạ nào chịu cho nổi!

Nghe đến đây, Bảo-Trân gục mặt vào lòng bàn tay:

- Thôi, đừng kể nữa, Luận!

Phản ứng của Bảo-Trân bây giờ chẳng khác chi lúc nàng hay tin Kính, bạn học của nàng, chết ở Lai-Khê. Kính bị đối phương bắt sống. Họ không bắn cho Kính chết nhanh chóng, vì Kính là sĩ quan Nhảy-Dù, một binh chủng thường gây rất nhiều khó khăn cho họ trong các cuộc tiến quân. Họ trói gô Kính vào thân cây, rồi họ dùng cây nứa vót nhọn, thong thả đâm từng nhát vào thân người của Kính. Anh “tà lọt” của Kính bị thương, nằm gần đó nhưng không thể làm gì và cũng không dám làm gì, chỉ biết trân mình giả chết để khỏi bị đối phương bắn bồi và cũng để tiếng kêu la thảm thiết của Kính không làm tê liệt khối óc và trái tim của anh ta.

Qua cơn xúc động, Bảo-Trân ngẩng lên và thấy Luận đang ngồi cạnh cụ bà, cách Bảo-Trân vài viên gạch rong rêu. Cụ bà vẫn lặng lẽ chậm nước mắt bằng ống tay áo. Cử chỉ của cụ tại sao Bảo-Trân lại cảm thấy quen quen. Ô, phải rồi, dạo Phiêu, em kế của Bảo-Trân, mất tích ở Ðức-Lập, mỗi chiều, sau khi thắp nhang nơi bàn Phật và phóng sanh vài chú chim non, bà Dư – mẹ của Bảo-Trân và Phiêu – thường ngồi trước hiên nhà, lơ đãng nhìn những chuyến xe đò vùn vụt chạy ngang. Vừa vén tay áo chậm nước mắt bà Dư vừa thầm mong một chiếc xe đò ngừng lại và đứa con trai thân yêu của bà sẽ bước xuống.

Hình ảnh rũ rượi của bà Dư lúc nào cũng đậm nét trong tâm cảm Bảo-Trân. Bây giờ, trước một hình ảnh tương tự, Bảo-Trân có thiện cảm ngay với hình ảnh đó. Bảo-Trân muốn lên tiếng làm quen nhưng cụ bà và Luận đều đã đứng lên. Luận xoay sang Bảo-Trân:

- Cô trông hộ cháu cái bình nhựa, nhá. Cháu dìu cụ lên đến cổng rồi cháu trở lại.

Bảo-Trân muốn đi theo, nhưng không hiểu tại sao nàng lại không đứng lên, chỉ ngồi yên, gật đầu. Nhìn dáng cụ bà thất thểu đi bên Luận tự dưng Bảo-Trân cảm nghe rưng rức trong lòng! Hình ảnh ấy đâu khác chi hình ảnh Mẹ của Kính, vào những dịp đứa em của Kính đưa bà đi thăm mộ Kính. Những lần đó, theo hai hàng nước mắt đầm đìa, bà tưởng như bà có thể nghe rõ âm điệu bản Tiếng Xưa của Dương-Thiệu-Tước; vì đó là bản “ruột” của Kính mỗi khi Kính trình tấu hạ-uy-cầm.

Bảo-Trân không hiểu, lúc sinh thời, người con trai của cụ bà có tài hoa như Kính hay không; nhưng điều Bảo-Trân vừa nhận biết là Bảo-Trân đã sai lầm trong suốt bao nhiêu năm qua khi nghĩ rằng tất cả người dân miền Bắc đều hiếu chiến, đều có trái tim thiếu hẳn tình người. Giờ đây, nghe câu chuyện của người đàn ông “sinh Bắc tử Nam” và thấy những giọt nước mắt trên gương mặt già nua của cụ bà, lòng Bảo-Trân chùng xuống ở độ thấp nhất; vì đây là lần đầu tiên Bảo-Trân cảm nhận được nỗi đau của những bà Mẹ miền Bắc.

Những giọt nước mắt của bà Mẹ miền Bắc có khác chi những giọt nước mắt của những bà Mẹ miền Nam Việt-Nam và của những bà Mẹ khác chủng tộc, thường đến Hoa-Thịnh-Ðốn để thẫn thờ trước Ðài-Tưởng-Niệm chiến binh Hoa-Kỳ tử trận tại Việt-Nam!

Bảo-Trân thầm nghĩ, tủi nhục nào rồi cũng phôi phai; hận thù nào rồi cũng lắng dịu; lỗi lầm nào cũng bị lãng quên; chiến thắng nào rồi cũng tàn lụn; chỉ có nỗi đau thương của những người Mẹ mất con trong cuộc chiến thì lúc nào cũng âm ỉ gậm nhắm những trái tim héo mòn!

 

ĐIỆP MỸ LINH

 http://www.diepmylinh.com/

 

 

 

 

 

 

Nhà Văn Điệp Mỹ Linh

 

 

Quả Phụ Hoàng Sa

 

Kính tặng tất cả Quả Phụ Hoàng Sa – 19-01-1974

 

Vừa đẩy cửa bước vào, Bằng hơi khựng lại, vì tiếng đàn và giọng hát buồn buồn của Lãm Thúy – vợ của Bằng:“…Biết đi sầu em mong. Nhưng ngàn dân đang ngóng…”(1) Nhận ra tình khúc “ruột” mà chàng và Lãm Thúy thường tay trong tay vừa đi chầm chậm dọc bờ sông – từ Câu Lạc Bộ nổi đến cầu Tư Lệnh – vừa thì thầm hát mỗi lần Lãm Thúy tiễn chàng đi công tác, Bằng thở dài. Bằng tự trách, đã biết Lãm Thúy hay lo mà chàng lại quên, cho Lãm Thúy biết tin hơi sớm về chuyến công tác sắp đến! Ngần ngừ một chốc, Bằng đóng cửa lại, ra dấu cho bà giúp việc giữ im lặng rồi chàng đến sau lưng Lãm Thúy.

 

Tay vẫn lướt nhẹ trên phím đàn, Lãm Thúy vừa hát vừa nhìn ra khoảng không gian im vắng của một buổi chiều, bên kia cửa sổ. Bất chợt tiếng hát của Lãm Thúy vút cao hẳn một bát trình – octave – như nỗi đau thương đang thét gào từ trái tim đa cảm của nàng: “…Cố quên sầu thương đi. Anh nguyền đi theo gió, chớ buồn khóc chi càng khổ người đi…” (2)

 

Là một sĩ quan từng chỉ huy nhiều đơn vị tác chiến Hải Quân, Bằng cứ tưởng rằng tâm hồn chàng đã chai lỳ về những sinh ly tử biệt; nhưng bây giờ, trong khung cảnh này và lời ca này, Bằng mới nhận ra chàng cũng chỉ là một người bình thường với những cảm nhận bình thường và những xúc động bình thường. Bằng đứng yên, nén vào lòng những rung động ngút ngàn. Khi tiếng đàn và giọng hát của Lãm Thúy chậm dần để chấm dứt:  “…Cố nén sầu lòng bao năm!”(3) Bằng nhẹ nhàng khom xuống, ôm vai nàng rồi tựa cằm lên vai phải của nàng. Lãm Thúy đưa tay phải vin vào cổ của Bằng rồi nghiêng đầu vào má chàng. Bằng hôn nhẹ vào tóc nàng, thì thầm:

 

-Sao biết là anh? Nhỡ thằng nào khác thì sao?

 

-Làm vợ anh bao nhiêu năm mà không nhận ra “mùi của anh” thì tệ quá!

 

-Cảm ơn em. Em thay đồ, mình đi đón các con, xong, đưa các con đi ăn, nha!

 

Thường thường, cả gia đình đi ăn vào cuối tuần; nhưng mỗi khi nhận được lệnh công tác, Bằng thích đưa vợ con đi ăn vào buổi chiều trước hôm chàng thi hành lệnh. Vì biết tính Bằng, Lãm Thúy chỉ “Dạ”. Trong khi thay y phục, thấy Bằng vội vàng xếp quân trang vào va-ly, Lãm Thúy ngạc nhiên:

 

-Để tý đi ăn về em sắp xếp; mai mới đi mà anh làm chi gấp vậy?

 

-Sẵn mượn được xe Jeep, anh đem tất cả quân trang, quân dụng xuống chiến hạm rồi trả xe luôn tối nay; mai không có xe, xích lô chở không hết.

 

-Nếu vậy thì chốc nữa, khi anh lái xe đến cổng Hải Quân Công Xưởng, em và các con phải xuống xe, chờ anh ngoài cổng, phải không?

 

-Cái cô này! Có bao giờ anh bắt em chờ ngoài cổng đâu mà em lo dữ vậy!

 

Lãm Thúy im lặng, nét mặt dàu dàu như chưa hiểu ý chàng. Bằng tiếp:

 

-Em bớt cái tính hay lo đi! Anh đã đưa chiến hạm ra cặp cầu Tư Lệnh rồi.

 

-Chiến hạm đại kỳ xong rồi hay sao, anh?

 

-Em cứ lo lắng quá như vậy thì từ nay anh không cho em biết bất cứ điều gì nữa.

 

Lãm Thúy cố làm vui lòng Bằng:

 

-Em hết lo rồi.

 

-Thôi, đừng giả vờ, “cô nương”! “Tui” biết cô “wá” mà!

 

-Thiệt mà!

 

-Thôi, đi kẻo trễ, hai đứa nhỏ chờ.

 

Khi xe chạy trên đường Mạc Đỉnh Chi, ngang Hội Việt Mỹ, Bằng hơi mỉm cười, nhớ lại thời chàng học thêm Anh văn tại đây. Lý do Bằng phải học thêm Anh văn là vì lúc học trung học cho đến xong tú tài II, ban Toán, Bằng chọn Pháp văn là sinh ngữ chính. Khi nghe các bạn cùng khóa Hải Quân – ngày trước, bậc trung học và tú tài, chọn Anh văn là sinh ngữ chính – thực tập trên Đệ Thất Hạm Đội cho biết rằng số vốn tiếng Anh của các bạn này mà khi nghe Mỹ thuyết trình về một vấn đề chuyên môn nào đó thì chỉ biết… “khóc thét”! Thế là Bằng ngại, phải học thêm Anh văn.

 

Những buổi tối đến đây học Anh văn sẽ không có gì đáng nhớ, nếu không có sự xuất hiện của cô sinh viên đại học Văn Khoa tên Lãm Thúy.

 

Lãm Thúy đẹp thùy mị, đoan trang nhưng nét mặt buồn buồn, trông rất nghiêm. Đa số học viên tại Hội Việt Mỹ là người lớn tuổi, đã ra đời, có chức vị trong đời; vì vậy, sự xuất hiện của cô sinh viên làm cho mọi người lưu tâm.

 

Người lưu tâm đến Lãm Thúy nhiều nhất là Bill Smith, vị giáo sư trẻ nhất trong số nam nữ giáo sư của Hội Việt Mỹ. Là đàn ông, khi bắt gặp đôi mắt xanh màu ngọc bích của Bill nhìn Lãm Thúy, Bằng có thể hiểu được những rung động trong lòng Bill đang khuấy động dữ dội đến cỡ nào! Riêng Bằng, nét e ấp, thẹn thùng cùng sóng mũi cao và hai “lúm đồng tiền” trên đôi má bầu bỉnh của Lãm Thúy không thể không lưu lại chút tình cảm lâng lâng, nhè nhẹ trong lòng chàng.

Liếc mắt, thấy Bằng cứ tủm tỉm cười, Lãm Thúy hỏi:

 

-Có gì thú vị lắm hay sao mà anh cứ cười mỉm một mình hoài vậy?

 

-Xe chạy ngang Hội Việt Mỹ làm anh nhớ hồi đó hai đứa mình quen nhau.

 

Lãm Thúy âu yếm để tay lên vai Bằng. Cả hai cùng im lặng trong chút hạnh phúc nhỏ nhoi.

 

Đến trường Saint Paul, trước khi rời xe, Bằng dặn:

 

-Em ngồi đó, để anh vào đón con.

 

Nhìn đồng hồ tay, thấy chưa đến giờ tan trường, Lãm Thúy bảo:

 

-Chưa đến giờ tan trường mà, anh.

 

-Biết rồi. Anh muốn làm cho hai đứa nhỏ ngạc nhiên chơi.

 

Nhìn theo dáng người cao, đôi vai ngang bướng bỉnh của Bằng, Lãm Thúy chợt nhớ một kỷ niệm “quê một cục” của nàng.

 

Kỷ niệm “quê một cục” xảy ra vào hôm vô tình Bằng ngồi cạnh Lãm Thúy. Lãm Thúy chẳng hề để ý đến Bằng; vì nàng có rất nhiều thanh niên trí thức theo đuổi. Tối đó Lãm Thúy ngạc nhiên khi thấy Bill, tay xách cặp, tay xách Guitar – được bọc trong bao bằng vải – bước vào lớp. Chào mọi người xong, Bill cho biết hôm nay là Lễ Độc Lập của Hoa Kỳ, chàng muốn tất cả sẽ dành 30 phút cuối giờ học để ca hát cho vui. Mọi người vỗ tay.

 

Sau khi tất cả học viên nộp bài luận văn “Hãy tả một ngày lễ nào của Việt Nam mà bạn yêu thích nhất”, Bill nhìn đồng hồ tay, thấy còn 30 phút nữa hết giờ. Bill mở bọc Guitar và hỏi ai tình nguyện giúp vui trước, vui lòng đưa tay lên? Mọi người đều cười, nhìn nhau. Thấy không ai đưa tay, Bill tình nguyện hát trước. Muốn nhân cơ hội này, gián tiếp tỏ tình với Lãm Thúy, Bill nói: “Tôi sẽ hát tình khúc Put Your Head On My Shoulder của Paul Anka để tặng một người đẹp trong lớp này mà tôi không thể phát âm tên của nàng!” Cả lớp cười rộ lên. Bằng nhìn Lãm Thúy rất nhanh và thấy nàng vẫn điềm nhiên, chẳng có vẻ nghi ngờ gì về câu nói “bóng gió” của Bill. Bill nhờ một học viên thường đi chơi với Bill đệm Guitar. Sau khi cho người đệm Guitar biết “tông” và nhịp điệu của bản nhạc, Bill vừa đi chầm chậm quanh lớp vừa hát một cách thoải mái, tự nhiên:“Put your head on my shoulder. Hold me in your arms, baby! Squeeze me oh so tight. Show me that you love me too…” Giọng ca của Bill ấm áp, nồng nàn, chinh phục cả lớp.

 

Bill chấm dứt bản nhạc vừa khi Bill đến bên Bằng. Mọi người vỗ tay. Bằng vội lên tiếng trước khi Bill quay đi: “Hi, xin lỗi Bill! Anh có bản nhạc đó không, làm ơn cho tôi mượn?” Bill ngạc nhiên: “Anh chơi đàn à? Thú vị quá! Nhạc cụ gì?” Bằng đáp: “Guitar.” Bill cười: “Có. Mai tôi sẽ copy tặng anh.” Bằng cảm ơn.

 

Bill xoay người bước đi. Lãm Thúy hơi ngần ngừ, muốn hỏi Bằng về ca khúc Bill vừa hát nhưng cứ ngại ngùng. Lớn lên và được giáo dục rằng “nam nữ thọ thọ bất thân” cho nên khi nghe Bill giới thiệu và hát, Lãm Thúy cứ tưởng là Put Your Hand On My Shoulder – và nàng nghĩ – như vậy cũng đủ lãng mạn rồi! Vì vậy, sau khi nghe Bill hứa với Bằng, Lãm Thúy viết lên tờ giấy rồi đưa sang Bằng: “Thưa anh, khi nào ông Bill tặng anh bản Put Your Hand On My Shoulder, anh vui lòng cho tôi mượn.” Bằng viết trả lời: “Thưa cô, tựa của bài hát là Put Your Head – chứ không phải Hand – On My Shoulder. Vâng tôi sẽ cho cô mượn”. Đọc “note” của Bằng, Lãm Thúy đỏ mặt, mắc cỡ quá, chỉ muốn trốn ra khỏi lớp ngay tức thì! Nhưng nghĩ lại, Lãm Thúy nhận thấy Bằng là một thanh niên trực tính; điều đó rất hợp với bản tính thẳng thắn của nàng.

 

Hôm sau, thấy Bằng nơi bãi đậu xe, Bill bảo Bằng chờ rồi Bill lấy từ cặp da copy của bản nhạc trao cho Bằng. Sau khi cảm ơn Bill, Bằng vội đem lên văn phòng, làm một copy khác. Vào lớp, Bằng đến bên Lãm Thúy: “Đây, tôi biếu cô một copy. À, mà cô hát hay là cô chơi đàn?” Lãm Thúy vẫn còn thẹn về chữ “Head” và “Hand”; vì ngại Bằng nghĩ rằng nàng lãng tai hay là kém Anh văn, cho nên ấp úng: “Dạ…dạ hát và đàn.” Bằng nhìn Lãm Thúy, lòng gợn lên chút xao xuyến nhè nhẹ, nói rất nhỏ: “Không biết làm thế nào tôi có thể nghe được giọng hát và tiếng đàn của cô?” Lãm Thúy e thẹn cúi mặt, lý nhí cảm ơn vừa khi Bill bước vào lớp. Thấy cạnh Lãm Thúy không còn ghế trống, Bằng quay đi. Nhìn theo Bằng, Lãm Thúy cảm thấy có nhiều thiện cảm với Bằng.

 

Đang miên mang trong dòng kỷ niệm, Lãm Thúy giật mình vì tiếng reo vui của Hoàng Anh và Oanh Vũ: “Măng! Măng! Ba nói cho tụi con đi ăn ở nhà hàng Bồng Lai”.

 

******

 

Dựng chiếc Honda Dame gần cột cờ trước Bộ Tư Lệnh Hải Quân, Bằng trao chìa khóa Honda cho Lãm Thúy rồi nắm tay nàng, bóp nhẹ:

 

-Em về đi.

 

-Em chờ chiến hạm rời bến đã.

 

-Lần nào anh đi công tác em cũng đòi đi đưa, rồi em buồn. Em cứ tự làm khổ em! Cười đi!

 

Nhìn nụ cười méo xẹo của Lãm Thúy, Bằng vừa đi lui về hướng hạm kiều vừa gật đầu nhè nhẹ vừa bắt chước giọng trầm trầm của Bill vào bữa tiệc cưới của chàng và nàng năm xưa: “Just give me a steel guitar, a glass of wine… And one more thing before I go. Here's a secret, I still love you so…”(4) Biết Bằng muốn làm cho giây phút quyến luyến bớt ngậm ngùi, nhưng sao Lãm Thúy cũng vẫn không thể cười được! Nhìn theo dáng điệu đáng yêu của Bằng, Lãm Thúy vừa quẹt nước mắt vừa tức cười, thụng mặt, thầm nghĩ, “bộ dạng” “dễ ghét” như vậy hèn gì “mấy con khỉ” cứ “đeo cứng ngắt”! Mỗi khi nghĩ đến “mấy con khỉ” là mỗi lần Lãm Thúy nhớ những giọt nước mắt hờn ghen của nàng. Lần nào cũng vậy, thấy Lãm Thúy buồn tủi, hờn ghen, Bằng cũng – nửa đùa nửa thật – bảo: “Tại hồi đó nhiều thằng khổ vì em thì bây giờ em phải khổ vì một thằng! Ha…ha…”

 

******

 

Không hiểu tại sao sau khi bác xích-lô đưa Hoàng Anh và Oanh Vũ đi học, Lãm Thúy lại cảm thấy bồn chồn, rốt ruột, đứng ngồi không yên! Nghĩ rằng, có thể nàng quá lo lắng về chuyến công tác dài hạn của Bằng tại vùng I Duyên Hải, Lãm Thúy ôm đàn, dạo vài đoản khúc vui cho khuây khỏa. Khi Lãm Thúy đàn đến bản Qui Sait, Qui Sait, Qui Sait của Luis Mariano thì có tiếng gõ cửa.

Nhớ là bà giúp việc vừa đi chợ, Lãm Thúy quay ra cửa và thấy người đưa thư. Thấy tên người gửi là Bằng, Lãm Thúy rất vui, cảm ơn người đưa thư rồi mở thư ra ngay:

Lãm Thúy,

Chiến hạm đến vùng hành quân lâu rồi nhưng anh bận quá, không viết thư cho em. Hôm nay tàu về bến, vừa họp xong, thấy bưu tín viên đi ngang, anh viết vội vài dòng để em yên tâm, đừng lo lắng gì cho anh. Em hãy lo cho hai con và lo cho em…

Đọc đến đây, biết Bằng vẫn bình an, Lãm Thúy cảm thấy thư thái và hớn hở trong lòng. Nhưng chỉ vài tíc tắc sau, sự âu lo, sốt ruột và bồn chồn lại trở về! Ngại có điều gì xảy ra cho con, Lãm Thúy thay đồ, đi Honda Dame đến trường Saint Paul.

Bước vào văn phòng, Lãm Thúy rất ngạc nhiên trước cảnh các Sơ đều quay quần bên radio chứ không ai ngồi tại bàn làm việc như mọi khi. Bất ngờ Sơ Claudine quay ra cửa, thấy Lãm Thúy, vội hỏi:

-Dạ, bà cần chi ạ?

Các Sơ tắt radio, trở về bàn làm việc trong khi Lãm Thúy đáp lời Sơ Claudine:

-Thưa, tôi muốn biết sáng nay con tôi đến lớp có gì lạ hay không ạ?

-Thưa bà, cháu tên gì, lớp mấy ạ?

-Thưa, Hoàng Anh và Oanh Vũ; lớp 3 và lớp 4 ạ!

Một trong các Sơ ngồi sau bàn làm việc, dò danh sách rồi đáp:

-Thưa bà, hai cháu vẫn bình thường; đang ở trong lớp.

Lãm Thúy nhíu mày, tự hỏi, Bằng bình an, Hoàng Anh và Oanh Vũ bình thường thì niềm lo âu, nỗi bồn chồn trong lòng nàng là do đâu? Vừa khi đó Sơ Claudine chợt nhớ, cách nay không lâu, một “ông Hải Quân” vào gặp Sơ, xin đón Hoàng Anh và Oanh Vũ về sớm. Sự việc “ông Hải Quân” đón con hôm đó và nét mặt âu lo của Lãm Thúy hôm nay khiến Sơ Claudine phân vân:

-Thưa, hôm trước ông nhà đến đón hai cháu về sớm cho nên tôi biết ông nhà là Hải Quân, đúng không, thưa bà?

-Thưa vâng, ông nhà tôi là Hải Quân.

Sơ Claudine làm dấu Thánh Giá rồi nhìn tượng Chúa trên tường, khấn:

-Xin Chúa ban phép lành cho mấy “ông Hải Quân”. Xin Chúa giúp bà và hai cháu nhiều nghị lực nếu ông nhà có mặt ở…

Lãm Thúy hoang mang, không để Sơ Claudine nói dứt câu:

-Sơ nói gì? Tôi không hiểu.

Nghĩ rằng tin dữ đã làm cho tinh thần của Lãm Thúy bấn loạn, Sơ Claudine hỏi:

-Có lẽ bà đã biết tin rồi, phải không ạ?

-Tin gì? Sơ Claudine! Sơ có biết là những câu nói của Sơ làm cho khối óc của tôi muốn vỡ tung ra hay không?

Sơ Claudine vừa lý nhí “ Xin lỗi bà” vừa đưa Lãm Thúy vào văn phòng của Sơ, đóng cửa lại. Lãm Thúy không tự hiểu được tại sao nàng lại hoàn hoàn bị phân tâm đến độ phải vâng lời Sơ Claudine như một cô học trò! Sơ Claudine đưa nàng đến chiếc ghế trước bàn làm việc của Sơ rồi bảo:

-Mời bà ngồi.

Lãm Thúy ngồi. Sơ Claudine ngồi sau bàn làm việc, dịu dàng nhìn Lãm Thúy:

-Thưa bà, từ sáng đến giờ, đài phát thanh cứ lập đi lập lại một bản tin làm rúng động mọi người. Bà đã nghe tin đó chưa ạ?

-Thưa Sơ, tôi chỉ nghe tin tức hoặc xem TV vào buổi chiều và tối; ban ngày tôi cần sự yên tịnh, vì tôi có việc khác phải làm.

-Vâng, nếu thế thì tôi mời bà nghe, nhé!

Sơ Claudine xoay ra bàn nhỏ sau lưng, vừa mở radio vừa tiếp:

-Nếu đài phát thanh chưa phát ngay bản tin đó thì họ sẽ phát chỉ sau một vài phút; vì họ cần cập nhật thêm nhiều dữ kiện của chiến trận. Bà chịu khó chờ.

Trong khi Lãm Thúy tự hỏi tại sao Sơ Claudine lại dùng danh từ “chiến trận” thì – từ radio – tổng hợp âm thanh nam và nữ vang lên: “…Việt Nam! Việt Nam! Việt Nam quê hương đất nước sáng ngời. Việt Nam ! Việt Nam !...”(5) Âm thanh hợp ca nhỏ dần nhỏ dần rồi tiếng xướng ngôn viên: “Xin cảm ơn quý thính giả đang theo dõi chương trình truyền thanh của chúng tôi. Sau đây là phần tường trình với nhiều chi tiết vừa được cập nhật về cuộc hải chiến giữa Hải Quân V.N.C.H. và Hải Quân Trung Cộng tại Hoàng Sa, do phóng viên Nguyễn Trần tường thuật từ Đà Nẵng.”

 

Giọng nam vang lên: “Nguyễn Trần xin kính chào quý thính giả. Chúng tôi vừa được bổ túc nhiều chi tiết quan trọng về trận hải chiến rất hào hùng và đẩm máu giữa Hải Quân V.N.C.H. với Hải Quân của quân xâm lược Trung Cộng tại quần đảo Hoàng Sa – của Việt Nam.

 

Kính thưa quý vị, lực lượng Hải Quân Trung Cộng gồm 4 chiến hạm: K271, K274, T389, T396 và một số tàu đánh cá được trang bị vũ khí nặng.

 

Lực lượng Hải Quân V.N.C.H. hiện có mặt tại Hoàng Sa là: HQ 4, HQ 5, HQ 16, HQ 10, một số Biệt Hải, Hải Kích và Địa Phương Quân.

 

Bốn chiến hạm của Hải Quân V.N.C.H. được phân nhiệm như sau: Mục tiêu của HQ 5 là K274; của HQ 4 là K271; của HQ 16 là T389; và của HQ 10 là T396.

 

Sau khi nhận được chỉ thị của Tư Lệnh Hải Quân Vùng I Duyên Hải – Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại – Chỉ Huy Trưởng Hải Đội Đặc Nhiệm Hoàng Sa của Hải Quân V.N.C.H., Hải Quân Đại Tá Hà Văn Ngạc, ra lệnh khai hỏa! Ngay tức khắc, HQ 16 và HQ 10 bắn thẳng vào T389 và T396 của Trung Cộng. Trung Cộng phản pháo dữ dội. Hai bên đều tận dụng tất cả hỏa lực.

 

Kết quả, T389 của Trung Cộng trúng hải pháo, bốc cháy; T396 của Trung Cộng tác xạ không chính xác và bị quay vòng vòng; vì tay lái trúng đạn của Hải Quân V.N.C.H. Chiếc K274 của Trung Cộng cũng bị trúng đạn, ủi vô bờ.

 

Hải pháo của Trung Cộng bắn trúng đài chỉ huy của HQ 10. Hạm Trưởng và một số nhân viên bị tử thương…”

 

Lãm Thúy giật mình, bùng tai, không nghe được gì nữa! Nàng thở dồn dập, mắt mở lớn nhìn trừng trừng vào khoảng không bên ngoài cửa sổ như không tin những gì nàng đã nghe!

 

Sơ Claudine bước về phía Lãm Thúy, ân cần vịn vai nàng:

 

-Bà cố gắng bình tĩnh. Hãy cho chúng tôi biết, chúng tôi có thể giúp bà được điều gì?

 

Lãm Thúy mím môi thật chặt, cố nén vào lòng tiếng thét bi thương! Trong khi thần kinh của Lãm Thúy bị chấn động một cách kinh hoàng và tàn bạo thì hình ảnh Oanh Vũ và Hoàng Anh hiện lên. Lãm Thúy nắm chặt hai tay vào nhau một lúc lâu lắm rồi lắp bắp đáp:

 

-Cảm…cảm… ơn Sơ. Tôi…tôi… sẽ…vượt qua …cơn đau này – vì …vì…con tôi!

 

-Bà cần đón hai cháu hay không?

 

-Dạ không. Tôi phải đến Bộ Tư Lệnh Hải Quân để nhờ họ xác định.

 

-Bà cần người đưa đi hay không? Chúng tôi sẽ có người đưa bà đi.

 

Lãm Thúy “rơi” vào trạng thái chối bỏ:

 

-Cảm ơn Sơ. Tôi tự lo được. Nếu có thể, Sơ vui lòng cho tôi gửi chiếc Honda Dame lại đây; vì tôi tự biết, tôi không nên đi bằng Honda hai bánh; hơn nữa, Bộ Tư Lệnh cũng gần đây.

 

Không đợi Sơ Claudine đáp, Lãm Thúy đi ra cổng, quẹo trái, đi về hướng Hải Quân Công Xưởng. Đến cổng gác – trước khi vào Hải Quân Công Xưởng và bệnh xá Bạch Đằng – Lãm Thúy dừng lại. Anh thủy thủ trong trạm gác hỏi:

 

-Chị cho biết tên, họ. Chị cần vào khu vực này có chuyện gì?

 

-Tôi là Quả Phụ Hoàng Sa. Tôi muốn sang Bộ Tư Lệnh Hải Quân để được xác nhận về tin của chồng tôi.

 

-Bà vui lòng chờ chút.

 

Anh thủy thủ quay điện thoại. Chỉ một chốc, sau khi anh thủy thủ gác điện thoại, Lãm Thúy thấy chiếc Jeep “lùn” từ Hải Quân Công Xưởng chạy đến và ngừng ngay cổng gác. Một sĩ quan Hải Quân bước xuống, chào Lãm Thúy:

 

-Thưa, có phải bà là Quả Phụ Hoàng Sa không ạ?

 

Lãm Thúy vừa gật đầu vừa quẹt nước mắt. Vị sĩ quan tiếp:

 

-Tôi được lệnh đưa xe đến đón bà để đưa bà sang Bộ Tư Lệnh.

 

Trạng thái chối bỏ lại trở về, Lãm Thúy đáp tỉnh bơ:

 

-Cảm ơn anh. Nhưng tôi chỉ muốn được một mình đi dọc theo mấy cầu tàu thân thương mà tôi từng đưa tiễn chồng tôi.

 

-Vâng. Tôi hiểu.

 

Nhìn theo Lãm Thúy, vị sĩ quan và các thủy thủ nhìn nhau, thờ dài!

 

Lãm Thúy đi chầm chậm. Ngang qua bệnh xá Bạch Đằng, nàng thầm ước:“Con xin nguyện sẽ đổi quảng đời còn lại của con chỉ để được thấy Bằng một lần cuối!” Từng bước chân vô thức đưa Lãm Thúy đi dọc bờ sông. Thấy vài chiến hạm cặp dọc cầu tàu, tự dưng tiếng hát ngân lên âm thầm trong lòng nàng: “Bến ấy ngày xưa người đi vấn vương biệt ly… Thấy bóng người về hay chăng?...”(7) Đến cầu Tư Lệnh, Lãm Thúy đứng chơ vơ cạnh cột cờ. Mọi sinh hoạt tại cầu tàu cũng như nơi cổng gác tại Bộ Tư Lệnh đều có vẻ hấp tấp hơn mọi khi; nhưng Lãm Thúy lại cảm thấy hồn nàng trống vắng như một bãi tuyết mênh mông! Nhìn quân nhân Hải Quân vội vã đi về phía hạm kiều, không thể nào Lãm Thúy không nhớ lại “bộ dạng” “dễ ghét” của Bằng vào buổi chia xa cách nay chỉ vài tuần!

 

Sự chịu đựng dường như đã cạn kiệt và máu trong cơ thể như đã ngưng luân lưu, Lãm Thúy thở mạnh, ôm ngực như sắp quỵ xuống thì tiếng còi vận chuyển từ một trong các chiến hạm vang lên khiến nàng choàng tỉnh.

 

Chiến hạm ngoài cùng từ từ tách bến.

 

Lãm Thúy nhìn theo chiến hạm với tất cả niềm thương nhớ. Khi chiến hạm khuất dần trong tầm mắt của nàng, Lãm Thúy hốt hoảng bước nhanh đến gần cầu tàu như không muốn tầm nhìn của nàng bị giới hạn.

 

Chính lúc ấy, Lãm Thúy tưởng như thấy Bằng đứng nơi cửa đài chỉ huy, vẫy tay tạ từ. Và, từ cõi lòng tan tác của nàng, tiếng hát xưa vọng về: “… Anh như bóng mây hồng trôi về chốn xa vời, lòng nặng nhớ mong…” Khi tiếng hát xưa vút cao một bác trình như nỗi đau thương đang thét gào:“…Cố quên sầu thương đi! Anh nguyền đi theo gió, chớ buồn khóc chi, càng khổ người đi…”(8) thì Lãm Thúy ôm ngực, từ từ…quỵ xuống!...

 

1-2-3-7-8.- Bến Cũ của Anh Việt.

4.- A Steel Guitar And A Glass Of Wine của Paul Anka. 

5.- Việt Nam! Việt Nam! của Phạm Duy.

 

Điệp Mỹ Linh

 

 

Nhà Văn Điệp Mỹ Linh

 

 

Tùy bút

NHA-TRANG XƯA*

ĐIỆP-MỸ-LINH

 

Để tưởng nhớ Cố Chuẩn Tướng Nguyễn Bá Liên, nhà thơ Hoàng Việt Sơn

và những Người Thân Yêu không còn nữa!

 

 “Hà-Nội dịu dàng, Hà-Nội thướt tha, Hà-Nội quyến rũ...” Bằng một giọng không còn là Bắc-Kỳ nguyên thủy, diễn giả nhấn giọng ở dấu nặng mỗi khi lập lại danh từ riêng “Hà-Nội”.

Cứ mỗi lần chữ “Nội” được phát âm, cái dấu nặng dường như nặng hơn và dội thẳng vào tâm thức tôi; ở đó bao kỷ niệm ấu thơ đang yên ngủ, bỗng trở mình, thức giậy.

Trong khi diễn giả vẽ ra những cảnh sắc nên thơ, những con đường yêu mến của Hà-Nội thuở xưa thì hồn tôi như ngây, như dại, âm thầm tìm về những ngõ ngách quanh co của một quá khứ mịt mùng; nơi có tiếng sóng rì rào bên bờ cát mịn, tiếng chuông chùa đồng vọng trên đồi cao, tiếng chuông nhà thờ ngân vang khi chiều xuống và tiếng xình xịch rã rời của chuyến tàu đêm.

Bỗng dưng tôi tưởng như tôi thấy lại được chuyến xe lửa mệt nhọc đang hổn hển thở từng ngụm khói đen sì giữa cánh đồng bao la. Và từ một toa xe dơ bẩn, tôi đang lặng người, trải dài bao thương nhớ theo từng vết lăn trên đoạn đường đầy rỉ sét.

Khi tàu đến Suối-Dầu, nhìn ánh nắng mỏng lướt nhẹ trên rừng cao su xanh rì và chiếc cầu nhỏ bắt ngang con suối cạn để vào Quận đường, tôi không nén được xúc động! Phạm-Đình-Phê, ngón đàn vĩ cầm không đối thủ của Nha-Trang đã phục vụ nơi đây, một thời. Nếu thính giả của đài phát thanh Nha-Trang từng say mê tiếng vĩ cầm của Phê thì các cô gái Nha-Thành cũng nghe lòng mình rung động khi tiếng Tây-Ban-Cầm của Phê dìu dặt trong điệu Rhumba Melody trầm buồn vào những buổi họp mặt. Bây giờ, tôi không hiểu sau bao nhiêu năm tù đày, ngón đàn của người anh cô cậu có còn làm nhức nhối lòng người nghe hay anh phải bán đàn và sử dụng những ngón tay thon dài ấy vào động tác lao động để mưu sinh? Tôi thở dài, nhìn rừng cao su im lìm lùi lại phía xa.

Tàu tiến vào Thành, nơi xuất phát loại mít ráo dày cơm, xơ ít; loại ô-ma ngọt, bùi, màu vàng tươi như lòng đỏ trứng gà; loại vú sữa nếp dày cơm, hạt nhỏ; loại sam-bô-chê ngọt như mật; loại chuối tiêu trái nhỏ nhưng thơm khi chín vàng.

Mùi thơm của chuối chín chắc chắn không giống mùi thơm của lúa. Nhưng màu vàng của chuối chín cây lại rạng rỡ chẳng khác chi màu vàng của cánh đồng lúa từ đường rầy xe lửa vào đến bìa làng; nơi đó, những mái nhà ngói đỏ thẹn thùng núp sau vườn cây ăn trái. Trong những vườn cây ấy, tôi biết chắc chắn thế nào cũng có cây mận với những trái đỏ hồng, hình quả chuông; cây chùm ruột với những trái nho nhỏ, kết thành chùm, từ xa trông như chùm nho xanh; cây bông điệp với những đóa hoa nhỏ nhắn màu vàng xen lẫn đỏ.

Tàu đến Cây-Dầu-Đôi, nơi có ông thầy bói nổi tiếng một thời. Con tàu vẫn tiến về phía trước nhưng hồn tôi lại lui về quá khứ; vì thấy cây cổ thụ vẫn tỏa rộng bóng mát êm đềm trên con đường nhựa ngập nắng.

Trên con đường ngập nắng ấy, đã biết bao lần tôi cùng bạn bè đạp xe đạp từ Nha-Trang lên đây để xem bói. Đứa học giỏi thì nhờ thầy bói xem sẽ đậu hay hỏng; đứa học dở thì nhờ thầy bói xem có bị bảng “cót” – không đủ điểm để thi lại kỳ hai – hay không? Cũng có nhiều nam sinh đi theo chỉ với mục đích được đi cùng với một nữ sinh nào mà chàng ta ngầm để ý.

Xem bói xong, chúng tôi thường đến nhà bạn ở Bình-Can ăn thanh long. Những trái thanh long vỏ tím hồng và ruột mát, ngọt tự nhiên, bây giờ nghĩ đến cũng bắt thèm! Từ quốc lộ vào làng, chúng tôi phải đạp xe hàng dọc trên bờ ruộng khô. Những bờ ruộng này chia cách cánh đồng lúa mênh mông thành những thửa ruộng vuông vắn. Cuối những thửa ruộng ấy là lũy tre già. Bên kia lũy tre, dòng sông Cái lặng lờ xuôi ra biển, lưu lại đấy từng đụn cát im lìm.

Trên đường về, chúng tôi không quên ghé Phú-Vinh thăm bác Lê-Văn-Đào, giáo sư Anh văn và cũng là ngón đàn vĩ cầm thời với Ba tôi trong Hội Mỹ-Thuật Nha-Trang. Chúng tôi cũng ghé thăm chú Vân-Sơn, người có ngón đàn Hạ-Uy-Cầm tuyệt vời của ban ca nhạc Bình-Minh, đài phát thanh Nha-Trang.

Sau đó chúng tôi ghé Chợ-Mới uống nước dừa tươi. Ôi! Những trái dừa xiêm nho nhỏ, xinh xinh, vừa tới độ “nạo” đã cho chúng tôi từng miếng dừa non beo béo, dòn dòn và từng ngụm nước dừa trong, mát, ngọt mà bất cứ loại giải khát nào trên hành tinh này cũng không thể sánh bằng.

Ngoài cái thú uống nước dừa, nam sinh còn thích ghé Chợ-Mới để ngắm những người con gái có làn da mỏng, trắng và mịn như da con gái Dalat. Riêng tôi, tôi thích ghé Chợ-mới để thỏa mãn khứu giác vì mùi cam sành, mùi xoài chín cây, mùi hoa chanh, hoa bưởi. Bưởi ở đây không mang tên diễm lệ như Thanh-Trà ở Huế, không ngọt đậm đà như bưởi Biên-Hòa. Nhưng bưởi ở đây mọng nước và hương vị riêng biệt của nó cộng với tý muối ớt cũng đủ làm cho dịch vị của chúng tôi tiết ra gấp bội.

Từ Chợ-Mới tôi có thể thấy mái chùa Hải-Đức vươn cao trên ngọn đồi dày đặc cây táo nhơn. Bậc cấp cao nghệu trước cổng chùa đã bao lần đếm bước chân tôi? Gốc bông sứ bên hông chùa đã bao lần nghe tiếng tôi “gạo” bài thi hoà với tiếng mõ nhịp nhàng thoát ra từ chánh điện? Mấy chú kỳ nhông có còn phóng nhanh vào khóm lá khô khi bất ngờ thấy tôi đang rón rén hái trộm đoá ngọc lan?

Nhiều hôm học xong tôi men theo con đường mòn phía sau chùa Hải-Đức để sang ngọn đồi lớn; nơi chùa Phật Học im lìm sau hai hàng cây khuynh diệp, trường Bồ-Đề nương theo triền đồi thấp, và chùa Ngọc-Hội ẩn mình vào cuối ngọn đồi, về phía Tây. Từ ngọn đồi này tôi có thể thấy ngôi nhà thờ cao nghệu ở ngã sáu.

Dạo đó, những đêm Giáng-Sinh tôi thường choàng khăn voan quanh cổ, khoát chiếc áo lạnh ngắn, đi dọc theo đường Gia-Long, dưới hai hàng me sầu, rồi men theo bậc cấp bên hông nhà thờ, lên đến gốc đa, chỉ để nghe những bài thánh ca.

Cách nhà thờ không xa lắm, trên đường Nguyễn-Hoàng, Nhơn có còn cùng Ka-Lăng ru đời bằng Vần Thơ Sầu Rụng? Giàn hoa mimosa trước nhà “người” Hạ-Uy-Cầm Hà-Quang-Đức có còn nở rộ những đóa vàng hình tháp chuông? Cuối đường Thủ-Khoa-Huân, trường trung học bán công Lê-Qúy-Đôn có còn tổ chức những lớp luyện thi toán lý hóa vào mỗi mùa Hè?

Tôi vẫn nhớ, quanh trường Lê-Qúy-Đôn, hoa giấy nở rộ trên giàn, đơm bóng mát êm đềm trước những ngôi nhà tĩnh mịch. Nhiều khóm hoa giếng trắng, tím, hồng mọc hoang trên những vùng cát trắng, cạnh nhóm cây thồn bồn. Tôi thích hái hoa giếng, rút từ giữa đài hoa cái tim dài và nhỏ, rồi xoè bàn tay để cái tim lên, thổi nhẹ một tí là cái tim quay vòng vòng.

Ánh mắt tôi vượt khỏi rặng dương liễu và dừng lại nơi Trung tâm huấn luyện Không-Quân. Lòng tôi ngậm ngùi khi nghĩ đến Nguyễn-Đình-Tân, “dân” B-2, đã trở về lòng đất từ một cao độ trùng trùng! Và Nghị, người thường đi chiếc Vespa xanh xám, đến nhà tôi mỗi sáng chủ nhật để nghe ban Bình-Minh tập dượt. Là một người yêu nhạc, thích nghe nhạc, nhưng khi Nghị chết chỉ có tiếng phản lực thét gào!

Đến căn cứ Thủy-Quân Lục-Chiến tôi lại nhớ một lần ban Bình-Minh cùng nhóm học sinh đến đây ủy lạo binh sĩ theo lời mời của người hùng Nguyễn-Bá-Liên. Hôm đó, Thúy-Minh đơn ca Em Gắng Chờ của Huỳnh-Anh, Hoàng-Thu đơn ca Mùa Thái Hòa, Thanh-Điệp vừa đệm phong cầm vừa hát bản Dạ-Khúc của Nguyễn-Mỹ-Ca và nhiều học sinh khác cũng đem niềm vui đến cho những người lính chiến.

Sau đêm ủy lạo binh sĩ, chúng tôi được một sinh viên sĩ quan Quân-Y, bút hiệu Hoàng-Việt-Sơn, tặng bài thơ Tiếng Đàn Đêm Trung-Thu mà nay tôi nhớ không trọn:

.... Về đây tôi đã gặp nàng,

Bên bờ biển đẹp lòng tràn nhớ thương.

Đêm Thu ai hát Nghê thường?

Phong cầm chuyển phím tay hường nhẹ buông.

......

Em về đâu? Em ở đâu?

Cho tôi nghe mãi tiếng đàn,

Tâm tình giọng hát qua làn gió đưa.

Thúy-Minh, Thanh-Điệp, Hoàng-Thu,

Những hình bóng cũ bao giờ phai đâu!...

 

Bây giờ không biết vị bác sĩ Quân-Y “về đâu? ở đâu?”, nhưng tôi biết người hùng Nguyễn-Bá-Liên đang ở một nơi rất yên bình và không có hận thù!

Và kia là Trung Tâm Huấn Luyện Hải-Quân; nơi tôi có những gắn bó không rời; nơi tôi hiểu thế nào là lễ nghi quân cách của một quân chủng nặng truyền thống trưởng giả; và cũng là nơi Bùi-Tiết-Qúy, “dân” B-3 và Mùi, “dân bê bối (B-4) của tôi” đầu quân.

Qua khỏi cụm thông già nơi bệnh xá Hải-Quân là Chutt với những tô phở gà thịt thơm, bánh phở dai, nước dùng trong vắt và vài cái trứng non, ăn thơm thơm, bùi bùi.

Cách hàng phở không xa là con dốc nhỏ nối liền Chutt với Cầu-Đá. Tôi thích xuống Cầu-Đá vào mùa Thu để nhìn lá bàng bay bay trước khu phố hẹp và trong vòng rào Hải-Học-Viện; để nhìn những đợt sóng triền miên kéo về tung bọt trắng xóa bên ghềnh đá chơ vơ; để thấy con tàu an bình nhờ sự vây bọc của ngọn Corniche de Cauda và hòn Bảy-Miếu; để thấy mấy chàng Hải-Quân trong quân phục tiểu lễ trắng, áo dạ màu xanh đen, rời xe lam với những bước vội vàng.

Khoảng cách từ hòn Bảy-Miếu đến mõm núi cuối làng Xóm-Bóng có thể gọi là “cửa lớn” của “ngôi nhà” Nha-Trang; vì muốn vào Nha-Trang bằng đường thủy phải qua vùng biển ấy.

Nơi vùng biển ấy, mỗi sáng, từng đoàn ghe lũ lượt ra khơi từ Xóm-Bóng; và mỗi chiều, từng cánh buồm no gió lửng thửng trở về. Cũng nơi vùng biển ấy, vào những đêm tối trời, những điểm sáng ly ty của đoàn ghe câu mực trông rực rỡ và kỳ bí như những vì sao lấp lánh trên nền trời đêm.

Trên mõm núi cuối làng Xóm-Bóng là tu viện và trường dòng. Không xa hai chốn trang nghiêm ấy, về hướng Bắc, là Hòn-Chồng; nơi dường như lúc nào sóng cũng nổi cơn cuồng nộ, dội ầm ì vào ghềnh đá cheo leo. Chính cái âm thanh vang động này và hình ảnh những lượn sóng vỡ ra trắng xóa đã đem đến cho Hòn-Chồng tính chất hùng vỹ và lãng mạn. Những lần đến đây tôi thích ngồi lặng lẽ nhìn những nhánh rong rêu sậm màu chờn vờn theo từng lượn sóng rạc rào trên những phiến đá phẳng, cạnh mặt nước. Ngoài mấy đụn cát bên bờ vắng, Hòn-Chồng chỉ có nắng, gió, đá và sóng. Trong tiếng thét gào của sóng, Hòn-Chồng âm thầm ghi lại không biết bao nhiêu mối tình thơ!

Lui về hướng Tây Nam, tôi thấy lại vườn ổi ở Lương-Sơn với bác giữ vườn đôn hậu. Ngày xưa, bất cứ toán học sinh nào đến đây, chỉ trao cho bác ít tiền tượng trưng là có thể ăn tại chỗ bao nhiêu cũng được. Ổi ở đây không lớn như ổi ở Bac Mỹ-Thuận hay Bac Vàm-Cống. Nhưng ổi ở đây da mởn, vị đậm đà, ruột đỏ hồng. Những trái ổi chín cây lại có mùi thơm ngọt ngào, lúc nào cũng quyến rũ lũ chim non.

Và đây, Tháp-Bà ngào ngạc trầm hương đang soi mình bên dòng sông Cái. Từ chân cầu Xóm-Bóng lên đến chánh điện không biết phải qua bao nhiêu bậc cấp, nhưng những người hoang mang trước nhiều uẩn khúc của dòng đời đầy hệ lụy đã tìm đến đây cầu nguyện, xin xăm. Vào dịp Tết hay cuối tuần, khung cảnh Tháp-Bà tấp nập hơn, vì lũ học trò như chúng tôi thường đến đây chụp hình, xin xăm và hái lộc.

Rời khóm cây đầy bóng mát và mấy tàng phượng vỹ đỏ rực quanh Tháp-Bà, ánh mắt tôi dừng lại một chốc nơi hòn Đá-Chữ chơ vơ giữa lòng sông Cái. Trên hòn Đá-Chữ, một cây Bồ-Đề nhỏ nhắn, lẻ loi.

Nếu cây Bồ-Đề trên hòn Đá-Chữ xinh như loại cây trong chậu kiểng, thì cây Bồ-Đề trên miếu Sinh-Trung lại sum sê, um tùm như một cổ thụ. Từ mặt đường lên đến cổ thụ này cũng phải qua nhiều bậc cấp ven triền đồi. Từ đồi này nhìn xuống cửa sông Cái, doi Xóm-Cồn lặng lẽ với những mái nhà lụp xụp dưới rặng dừa xanh. Xóm-Cồn im lìm bao nhiêu thì trên đồi này cảnh vật cũng tĩnh mịch bấy nhiêu; tuy dưới chân đồi là bến xe đò Sinh-Trung nhộn nhịp, xô bồ.

Đối diện với bến xe Sinh-Trung là Rọc-Rau-Muống; nơi rau muống được trồng từng ao, từng ruộng, lan mãi đến đường Trần-Qúy-Cáp. Chính sự hiện diện của những ruộng rau muống đã tạo nên giao điểm của sự khác biệt nơi đường Trần-Qúy-Cáp: Một bên thì, Nha-Trang tấp nập, Nha-Trang yêu kiều, Nha-Trang lộng gió; và bên kia là vùng quê êm đềm bên những ruộng rau muống xanh ngút ngàn.

Nhắc đến đường Trần-Qúy-Cáp là nhắc đế tiệm nem Ninh-Hòa với những chiếc nem chua nho nhỏ, chỉ đủ vừa cắn làm đôi; những cuốn chả ram dòn rụm, có con tôm ở giữa; những lụi nem nướng bốc khói trên lò than hồng; và những đòn chả lụa nóng, dai, thơm mùi lá chuối.

Mỗi món ăn có một mùi thơm riêng biệt. Như mùi thơm của chả lụa không thể nào giống được mùi thơm của tô phở Chutt. Và hương vị phở Chutt cũng hoàn toàn khác với hương vị phở Bắc chính thống của tiệm phở Hợp-Lợi, trên đường Trần-Qúy-Cáp, gần đường rẽ vào Phường-Củi.

Con đường vào Phường-Củi khởi đầu từ đường Gia-Long, men theo công trường Trịnh-Minh-Thế trước sân ga, cắt đường Yersin, Hoàng-Tử-Cảnh, Độc-Lập và Trần-Qúy-Cáp. Nhờ vậy, từ phở Hợp-Lợi, nếu muốn sang đường Độc-Lập, chỉ cần đi vòng tiệm bánh Thanh-Vân là đến.

Đầu đường Độc-Lập, trước công trường Trịnh-Minh-Thế, là nơi ngày xưa tôi thường chen lấn, cố tìm một chỗ gần lề đường để xem duyệt binh. Lớn hơn một chút, tôi không đến đầu đường Độc-Lập để xem diễn hành nữa, mà tôi đến để mua sách, mua bản nhạc tại nhà sách Kim-Anh. Tôi vẫn nhớ chị bán sách tên Tuyền, có mái tóc rất dài và mượt như tơ. Cũng nơi đây, tiếng phong cầm dồn dập của Hoàng-Đình-Phiên nghe chẳng khác chi tiếng đàn chuyên nghiệp của Trần-Văn-Lý. Ngoài ra, vào những lúc tinh thần chùng thấp, Phiên cũng thích ru hồn bằng tiếng vĩ cầm thiết tha. Phiên là “linh hồn” của ban Gió-Mùa, đài phát thanh Nha-Trang. Nhưng mỗi khi Ba tôi – cụ Điệp-Linh Nguyễn-Văn-Ngữ – yêu cầu, Phiên cũng tăng cường cho ban Bình-Minh.

Xuôi theo đường Độc-Lập, chưa đến rạp xi-nê Tân-Tân, nhưng khứu giác của tôi bắt đầu “báo động” liên tục vì mùi thức ăn từ nhà hàng Dân-Thiên; nơi xuất phát những món ăn Tây chỉ thua nhà hàng Frigate ở bưu điện chút xíu thôi. Nhìn mấy bích chương đồ sộ treo ngay trước rạp Tân-Tân, không thể nào tôi không nhớ những xấp chương trình xi-nê mà thời đó chúng tôi rất thích cất giữ như cất giữ “Lưu bút ngày xanh” vậy. Tờ chương trình nào có in bản nhạc là chúng tôi tập hát ngay. Những bản nhạc được ưa chuộng lúc bấy giờ là Rivière Sans Retour, Bernadine, Letters In The Sand, Soyonara, Only you, v. v...

Nhắc đến mấy tình khúc nhạc này không làm sao tôi không nghĩ đến bác Nguyễn-Hữu-Dưỡng, giáo sư toán và cũng là ngón đàn vĩ cầm cùng thời với Ba tôi trong Hội Mỹ-Thuật Nha-Trang.

Cách rạp Tân-Tân chỉ vài căn phố là ngã tư Độc-Lập và đường Nhà-Thờ. Nơi đây lúc nào lời ca và nhạc Ấn-Độ cũng vang dội từ máy khuyếch đại âm thanh đặt ngay trước rạp Tân-Tiến. Vốn không thích nhạc và phim Ấn-Độ và cũng không thích thưởng thức nhạc một cách ồn ào, không bao giờ tôi đến rạp Tân-Tiến để xem xi-nê mà chỉ đến vì... hủ tiếu, mì, sâm bổ lượng và các món chè. Nếu Sài-Gòn có Chợ-Cũ với những món ăn vặt rất hấp dẫn của mấy chú Ba-Tàu thì Nha-Trang có khu vực chung quanh rạp Tân-Tiến.

Rời khu vực Tân-Tiến, chỉ cần qua khỏi Garage Charner, tôi thấy lại cái quán nhỏ của ông Tàu già chuyên bán sữa đậu nành và pa-tê-sô, ngay ngã ba Độc-Lập và Công-Quán. Ngày xưa, mỗi khi thâu thanh hoặc phát thanh trực tiếp xong, Ba tôi thường đưa toàn ban Bình-Minh đến quán này uống sữa đậu nành. Những lần đó, chú Phan-Phi-Phụng, giáo sư trường trung học Kỹ-Thuật Nha-Trang và cũng là người chơi Banjo Alto với cả ngón út của bàn tay trái, thường kể những mẫu chuyện rất ý vị.

Từ quán ông Tàu già, thấy ánh đèn sáng rực trước rạp xi-nê Minh-Châu, tôi bùi ngùi nhớ lại giọng hát, tiếng đàn của những nghệ sĩ tài tử của trường Võ-Tánh cũng như của ban Bình-Minh vào những dịp tổ chức xi-nê có phụ diễn tân nhạc để gây qũy. Những lần đó, Thanh-Điệp độc tấu phong cầm những bản Conserto của J. Rosas, Ivanovici, J. Strauss, v.v..., và Nguyệt-Thu không bao giờ đơn ca Sérénata mà không có tiếng vĩ cầm réo rắc của Phạm-Đình-Phê. Một lần, cũng tại rạp xi-nê Minh-Châu, Thanh-Điệp, Bích-Khuê, Bích-Khê cùng Thọ và Luân trong trường ca Hội-Trùng-Dương của Phạm-Đình-Chương, hòa âm của Nghiêm-Phú-Phi, đã đem giải nhất trong cuộc thi văn nghệ toàn miền Trung về cho trường Võ-Tánh.

Qua khỏi rạp Minh-Châu, nơi góc đường Công-Quán và Yersin, hàng cây khuynh diệp trước ngôi nhà của nhạc sĩ Minh-Kỳ đang lã mình trong gió. Giờ đây Minh-Kỳ không còn nữa, thảo nào hàng khuynh diệp thì thầm tiếc thương!

Từ nhà nhạc sĩ Minh-Kỳ có thể nghe tiếng Dalida trong bản Bambino phát ra vang dội từ máy khuếch đại âm thanh nơi rạp Tân-Quang, ngay ngã sáu Nhà-Đèn. Xeo xéo Nhà-Đèn, trên đường Quang-Trung, là ngôi nhà của Hoàng-Cầm, tiếng hát nhà nghề.

Từ nhà Hoàng-Cầm trở ra đường Độc-Lập, quẹo phải là đầu đường Phan-Bội-Châu; nơi có căn lầu hai tầng của Trần-Nam, người có biệt tài xử dụng Tây-Ban-Cầm giả tiếng Đại-Hồ-Cầm mà bất cứ người nào có trình độ thẩm âm cao thế mấy đi nữa cũng khó có thể phân biệt. Nhưng đó chỉ là sở đoản của Trần-Nam thôi; sở trường của Trần-Nam là tiếng Clarinette trầm và đục. Trần-Nam cũng là một thành viên của ban Bình Minh.

Qua khỏi nhà Trần-Nam khoảng vài căn phố là ngôi nhà hai tầng của Thérèse Scott; người đã đơn ca bài Giòng Sông Xanh, phát thanh trực tiếp vào hôm khai mạc đài phát thanh Nha-Trang. Hôm đó Thanh-Điệp cũng đơn ca Trở Về Thôn Cũ của Nhị-Hà. Sát bên nhà Thérèse Scott là cửa hàng của gia đình Thúy-Minh và Hoàng-Thu, hai giọng nữ trong ban Bình-Minh.

Xuôi theo đường Phan-Bội-Châu, qua khỏi rạp Modern, là khu phố sầm uất nhất của Nha-Trang. Vào những ngày trước Tết, chợ Tết thường được tổ chức trong lòng phố này, chiếm hẳn khoảng đường từ rạp Modern đến Toà án. Ban ngày chợ Tết thường đông người lớn tuổi đi mua sắm. Ban đêm là thời gian của người trẻ và lính. Cứ mỗi chiều, xe GMC từ các trung tâm huấn luyện Không-Quân, Hải-Quân, Đồng-Đế kéo về, “đổ” xuống cạnh chợ Tết không biết bao nhiêu là sinh-viên sĩ-quan và lính. Nhờ vậy, lúc nào chợ Tết cũng mang sắc thái vui tươi, nhộn nhịp.

Mỗi lần đi chợ Tết, chúng tôi thường chọn những chiếc áo dài vừa ý nhất, những chiếc áo lạnh hợp thời nhất và thế nào cũng choàng những chiếc khăn voan hợp với màu áo. Chúng tôi thích đi từng hai hay ba đứa với nhau, vừa đi chầm chậm vừa cắn hạt dưa vừa nói chuyện thầm thì. Thời đó, trong nhóm chúng tôi ít đứa được phép trang điểm, cho nên chúng tôi rất thích cắn hạt dưa cho môi hồng hồng. Chúng tôi, và hầu như tất cả mọi người đi chợ Tết ban đêm, cứ lượn lên lượn xuống dọc theo hai hè phố tràn ngập ánh sáng, rực rỡ lụa là, thơm mùi bánh mứt và lanh lảnh tiếng chào mời của mấy cô bán hàng xinh xinh. Khi nào biết “bị” người khác phái để ý và đi theo, chúng tôi thích thú trong lòng nhưng không hiểu tại sao lại cứ lẫn vào mấy cửa hàng để... trốn!

Một trong những nơi chúng tôi thường trốn là căn phố hai tầng của Mầu, ngay trước chợ Đầm. Mầu là “tay” Saxophone nồng cốt của ban Bình-Minh. Nếu ai đã nghe tiếng Saxophone Alto của Mầu nức nở từng hồi trong tình khúc J’ai Rêvé De Vous, người đó sẽ không còn muốn nghe tiếng Saxo. của ai khác nữa, ngay như của Louis Amstrong hoặc Kenny G.!

Cách nhà Mầu một con đường nhỏ dẫn ra biển là cửa hàng và khách sạn của gia đình chú Huỳnh-Anh, người sử dụng Đại-Hồ-Cầm độc nhất của Nha-Trang thời bấy giờ; và cũng là một thành viên trong ban Bình-Minh. Nhưng tôi không nhớ chú Huỳnh-Anh này có phải là tác giả tình khúc rất nổi tiếng, Em Gắng Chờ, hay không.

Ngày xưa, mỗi tối đi học Anh-Văn ở Thanh-Thương-Hội, gần Tòa Tỉnh, tôi thường đạp xe đạp qua cửa hàng của chú Huỳnh-Anh và thấy chú Huỳnh-Anh ngồi đọc sách hoặc hút thuốc ngay dưới trụ đèn đường. Về sau, các lớp Anh-Văn ở Thanh-Thương-Hội không còn nữa, cũng như chú Thu-Hoài – giọng ca nồng nàn, ấm áp nhất của ban ca nhạc Bình-Minh vào thời điểm đó – đã giã từ tiểu đoàn Bảo-An phòng vệ Tòa Tỉnh.

Vì đài phát thanh nằm trong khuôn viên Tòa Tỉnh cho nên, ngày đó, trước hay sau khi thâu thanh hoặc phát thanh trực tiếp, tôi thích lang thang quanh những con đường rợp bóng cây bàng để thỉnh thoảng nghe tiếng trái bàng rơi trên mặt đường.

Trước đài phát thanh, bên trái, cuối giải cát vàng là Xóm-Cồn; nơi có Đài thiên-văn Yersin. Bên phải, con đường Duy-Tân uốn mình bên giải cát mềm và hàng thông cằn cỗi.

Cạnh những hàng thông này, dạo vừa cùng gia đình từ Dalat dời về Nha-Trang, mỗi chiều chủ nhật, tôi thích đến để nghe ban nhạc “Kèn đồng” (quân nhạc) của Hải-Quân hòa nhạc. Thỉnh thoảng khán giả cũng “nổi máu nghệ sĩ”, tình nguyện hát một bản. Lúc ấy tôi chỉ hơn mười tuổi. Nhưng khi nghe một người hát ca khúc Viễn-Du tôi vẫn hiểu bản ấy không nên hát với ban nhạc “Kèn đồng” và trong khung cảnh này. Tuy vậy, lời ca, tiếng nhạc cũng dẫn dắt hồn tôi đi thật xa. Nhìn trời lồng lộng, nhìn biển mênh mông và nhìn quân phục tiểu lễ trắng của nhạc công, tôi thích. Tôi buồn. Và tôi ước mơ!

Dọc theo đường Duy-Tân là viện Pasteur, Khu Công-Chánh, nhà hàng Beau Rivage, Grand hotel, v. v... Nhưng nơi tôi thích nhất là ngã ba Duy-Tân và đường Bá-Đa-Lộc; vì đường Bá-Đa-Lộc chạy ngang ngôi trường thân yêu của tôi: Trường Trung Học Võ-Tánh.

Trường Võ-Tánh là tòa nhà đồ sộ hai tầng, mái lợp bằng ngói đỏ, tường sơn màu trứng sáo. Trong sân trường trồng nhiều cây sao, nhưng cây còn nhỏ, chưa tỏa được bóng mát um tùm như hai hàng cây sao dọc theo đường Bá-Đa-Lộc. Trường tôi không giàu cho nên sân trước không được tráng xi-măng mà chỉ được “nện” bằng đất đỏ, sân sau là bãi cát trống, đầy hoa giếng và cây thồn bồn. Trên bãi cát này, ngày xưa, học sinh thường dựng sân khấu lộ thiên để trình diễn văn nghệ vào những dịp bãi trường hoặc mừng Xuân.

Đối diện với trường Võ-Tánh, cách một khoảng đất trống và đường Yersin, là sân vận động; nơi tôi thường theo Ba tôi đi xem đá banh, để thấy Ba tôi lăng xăng phỏng vấn, viết bài cho tờ Đuốc-Thiêng.

Từ sân vận động, theo đường Yersin ngược lên phía ga xe lửa, tôi bỗng lặng người khi thấy lại ngôi nhà cũ – nơi chị em tôi lớn lên trong vòng tay thương yêu của người Mẹ rất đẹp và trẻ cho đến độ ai cũng tưởng Bà là chị tôi; và người Cha mang giòng máu nghệ sĩ nhưng sống khắc khổ như vị chân tu!

Cách nhà tôi độ vài gốc cây muồng là khách sạn Phụng-Hoàng; nơi Hàn-Phong-Cao đã lớn lên, đã ca vang những ca khúc tình tự dân tộc và đã đưa tiếng ca ngọt ngào ấy theo từng vết lăn của đoàn Kỵ-Binh.

Xéo góc với khách sạn Phụng-Hoàng, trên đường Gia-Long, là ngôi nhà của Thanh-Hoa, người có giọng soprano cao vút, cũng trong ban Bình-Minh. Cùng với tiếng vĩ cầm lảnh lót của Phạm-Đình-Phê, tiếng hát Thanh-Hoa đã làm say đắm không biết bao nhiêu tâm hồn yêu nhạc trong sầu khúc cổ điển Sénérade của Schubert.

Trong nỗi nhớ khôn cùng, tôi tưởng như tôi thấy lại tôi của những lần chơi vũ cầu trong sân, hoặc tập xe đạp trên đường Yersin, té lăn nhào trong tiếng cười rộ của đám bạn cùng lứa.

Ngày đó, nếu đường Yersin cho tôi những tràng cười hồn nhiên của tuổi ấu thơ thì khi tôi lớn hơn một chút, đường Gia-Long lại cho tôi những bâng khuâng, nhung nhớ ngập lòng, vì tiếng còi của những chuyến tàu đêm.

Đối với tôi, Nha-Trang tươi thắm nhất là khi những tia nắng đầu ngày vừa le lói cuối vùng biển xanh; và Nha-Trang dịu dàng nhất là thời gian trước khi màn đêm về. Vì lẽ đó, tôi thích lang thang một mình trên ngọn đồi sau chùa Hải-Đức để nhìn những tia nắng cuối cùng của một ngày còn bịn rịn trên ngọn Corniche de Cauda trong khi cả một vùng không gian rộng lớn đang từ từ chìm vào màn đêm.

Bây giờ, tuy đã xa Nha-Trang gần nửa thế kỷ, nhưng đôi khi, từ vùng “a-lại-gia-thức” sâu thẳm, tôi vẫn tưởng như thấy được những tia nắng hấp hối trên đỉnh Corniche de Cauda. Những lúc ấy, hồn tôi rỗng lặng để cảm nhận được tất cả vẻ đẹp hùng vỹ của quê Nội thân yêu!

 

ĐIỆP-MỸ-LINH

www.diepmylinh.com

*.- Tên đường, địa danh và tên trường trong Tùy Bút Tưởng Như Trở Về là tên đường, địa danh và tên trường trung học công lập của thành phố Nha-Trang vào thập niên 60 của thế kỷ 20.