NGẪM MÀ HỔ THẸN VỚI "CHÂN DUNG 99 NHÀ VĂN ĐƯƠNG ĐẠI" của NGUYỄN KHÔI

                                   

Bình luận Văn học của Lê Mai

                                              *

  Chẳng hiểu sao, đột nhiên trên "mạng" @ và trong xã hội hồi này lại ồn ĩ lên chuyện "Chân dung các Nhà văn"...hết Xuân Sách, đến Trần Nhương, Đỗ Hoàng rồi lại Nguyễn Khôi... Lê Mai tôi thấy có cái gì đó bức xúc, không bình thường trong đời sống xã hội, mà cụ thể là trên Văn đàn đương đại của ta  hôm nay. Đó là ngẫu nhiên hay tất nhiên của dòng chảy lịch sử ? Thiển nghĩ, văn chương của cái thời minh họa - trại lính- "tố cáo", "nâng bi" lừa mị đến trơ trẽn ...thứ văn chương đó đã đóng góp được gì cho Nhân dân, cho Tổ Quốc ?có xứng đáng cho người đời khắc họa Chân dung các Nhà văn. Phải chăng đó là hiện tượng "tự sướng", đầy ngộ nhận của các Văn nghệ sĩ?

  Tuy nhiên,  khi ta đọc Xuân Sách và Nguyễn Khôi (cách nhau 25 năm,mỗi người một vẻ) thì tưởng vậy mà không phải vậy!

   Chân dung đầu tiên mà Lê Mai tôi tìm đọc là Hồ Chí Minh - nhà thơ lớn của dân tộc, tác giả của “Ngục trung nhật kí”, người đã sáng tác bài chữ Hán “NGUYÊN TIÊU” hay đến mức được ông Hữu Thỉnh tôn vinh là bài thơ Việt hay nhất thế kỉ và làm tiêu chí tổ chức ngày Thơ Việt Nam…. nhưng ở Xuân Sách thì tìm mãi không thấy chân dung Hồ Chí Minh. Tìm ở Nguyễn Khôi thì… chính danh cũng không thấy, chỉ thấy bóng ông thấp thoáng trong chân dung nhà thơ :

           HOÀNG VĂN HOAN

          Anh Ba quy : Việt gian

          Sang nương vây lão Đặng

          Xuống địa phủ viết văn

          Gặp cụ Hồ đặng đặng ?

 Đọc đến đây, tôi chưa hiểu Nguyễn Khôi định nói gì ? Hoàng Văn Hoan xuống địa phủ viết văn gặp nhà thơ Hồ Chí Minh sao lại "đặng đặng"- được được hay đặng đặng  Đặng Tiểu Bình ... Nhưng thôi, OK, cho qua…

 Nhưng sự thấp thoáng của Cụ lại thấy trong chân dung nhà thơ Bút Tre:

                    BÚT TRE

           Người bút lông, bút sắt

           Lão quê mùa Bút Tre

           Dám "biên tập" lời Bác

           Vào đền Hùng khắc bia.

 Thế là có chuyện rồi!  Cái tấm bia trên đền Hùng khắc câu "Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước" là do Bút Tre (Phó Ty văn hóa Phú Thọ) đã "văn bản hóa" những câu nói tản mạn của cụ Hồ mà ra. Vậy thì, theo luật bản quyền, câu này phải thuộc về Bút Tre cớ sao lại gán cho Cụ ? Trên tinh thần của người cộng sản: Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, Lê Mai tôi đề nghị dời tấm bia đó ra khỏi khu Di tích Đền Hùng.

   Chân dung Nhà thơ TỐ HỮU (nguyên Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban tuyên huấn Trung ương) người lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư tưởng/ văn hóa nghệ thuật của đất nước trong một thời gian dài. Xuân Sách vẽ  khá chuẩn :

     Ta đi tới đỉnh cao muôn trượng

     Mắt trông về tám hướng phía trời xa

     Chân dép lốp bay vào vũ trụ

      Khi trở về ta lại là ta.

     Từ ấy tim tôi ngừng tiếng hát

     Trông về Việt Bắc tít mù mây

      Nhà càng lộng gió thơ càng nhạt

      Máu ở chiến trường, hoa ở đây.

 Xuân Sách "định luận" về  Tố Hữu ngay cả khi nhà thơ còn sống, thì phải nói là ông rất dũng cảm, đáng khâm phục. Câu "Nhà càng lộng gió thơ càng nhạt" là nói thẳng:Thơ đó là thơ "diễn ca chính trị" thùng rỗng kêu to, nặng về hô hào, tuyên huấn, nghèo chất văn chương; và cái kết: “máu ở chiến trường , hoa ở đây”, làm tôi nhớ tới Việt Phương trong "Cửa mở":

      "Anh dâng em

       bài thơ anh mà em là

       tác giả

       Đóa hoa anh mà em là

       sắc hương

       Thanh gươm anh mà em là

       chất thép."

của cái thời "dãi thây trăm họ làm công một người".

Tuy vậy, ở Xuân Sách, chân dung Tố Hữu mới chỉ là đặc tả được cái hiện tượng bên ngoài "cây táo ông Lành" mà thôi! Đến Nguyễn Khôi tôi thấy ông đi thẳng vào chân tướng, vào bản chất của nhà thơ cầm quyền toàn trị này:

                 TỐ HỮU

        Tự nhận mình là Lành

        Mọi người thấy rất dữ

        mác lê bọc bằng Thơ

        Đã đâm chỉ có "tử".

                      *

        Tung hoa máu xung trận

        là Hịch chống xâm lăng

        lời Thề với Đảng, Bác

        "Từ ấy" "Sáng tháng 5".

  Sao thế nhỉ? Mác lê sao lại viết thường mà không viết hoa, có ẩn ý gì ở đây không? Mác Lê viết hoa bọc bằng thơ hay cái mác cái  lê được Tố Hữu bọc bằng thơ, cái này thì phải hỏi ông Nguyễn Khôi thôi, còn Lê Mai tôithì mác lê bằng chữ thường hay chữ hoa cũng chỉ là một thứ vũ khí sắc bén “ Đã đâm chỉ có "tử"”. Không tin mọi người hãy hỏi “bè lũ Nhân văn Giai phẩm” mà xem.

   Chân dung Nhà thơ CHẾ LAN VIÊN  được Xuân Sách khắc họa:

        Điêu tàn ư ?đâu chỉ có Điêu tàn

        Ta nghĩ tới Vàng Sao từ thuở ấy

        Chim báo bão, lựa chiều cơn gió dậy

        Lựa ánh sáng trên đầu mà thay đổi sắc phù sa

        Thay đổi cả cơn mơ

        ai dám bảo con tàu không mộng tưởng

        Mỗi đêm khuya không uống một vầng trăng

        Lòng ta cũng như tàu, ta cũng uống

        Mặt anh em trong suối cạn

                                             Hội Nhà văn.

Khắc họa như thế là tài, nhưng chưa nói được bản chất của một thi sĩ tài bậc nhất, xảo trá bậc nhất, hãnh tiến bậc nhất, tráo trở bậc nhất…của văn đàn Việt Nam đương đại. Ta hãy xem lúc ông được  trọng dụng thì thơ ông ca ngợi Đảng, Bác hết lời: “Người thay đổi đời tôi, Người thay đổi thơ tôi”. Khi thất sủng thì “trở giáo” bằng những bài thơ trong “DI CẢO”:

 

      * Chưa cần cầm lên nếm, anh đã biết là Bánh vẽ  

        Thế nhưng anh vẫn ngồi vào bàn cùng bè bạn

         cầm lên nhấm nháp

        Chả là nếu anh từ chối

         Chúng sẽ bảo anh phá rối

         đêm vui...     

                 (BÁNH VẼ)

       *Sau này anh đọc thơ tôi thì nên nhớ

        có phải tôi viết đâu ! một nửa

        cái cần đưa vào thơ, tôi đã giết rồi

                  (TRỪ ĐI)

       *Tôi viết bằng xương thôi, nhưng không có

       cái thịt của mình.

Biết rõ những điều này, chúng ta hãy xem Nguyễn Khôi vẽ chân dung nhà thơ:

               CHẾ LAN VIÊN

         Tài thơ đến như Chế

         Đời thật khó khen chê

         Bẻ cành Phong lan bể

         "con cá Song cầm đuốc dẫn Thơ về "

                        *

         Bắn pháo hoa Tư Tưởng

         Vờ khóc nước non Hời

         Tháp Bay On bốn mặt

         Giấu đi mặt ma trơi.

Hình như Nguyễn Khôi vẫn chưa tin ông, ngay cả “Di cảo”!

 

Chân dung PHẠM TIẾN DUẬT, ta xem Xuân Sách vẽ:

          Trường Sơn đông em đi hái măng

           Trường Sơn tây anh làm thơ cho lính

          Đời có lúc bay lên vầng trăng

          Lại rơi xuống Chiếc xe không kính

          Thế đấy !giữa chiến trường

          Nghe tiếng bom cũng mạnh.

Ông xứng đáng là Nhà thơ anh hùng thời chống Mỹ, được Tố Hữu, Xuân Diệu gọi là "con Đại bàng non" với câu thơ được truyền thông, báo chí thời ấy quảng bá hết cỡ "Đường ra trận mùa này đẹp lắm". Nhưng khi trải qua lửa đạn, máu xương của các chiến sĩ, thì ông đã tỉnh ngộ viết "Vòng trắng", bị Tố Hữu coi là "rễ thối", bị loại bỏ. Bi kịch này của Duật đã được Nguyễn Khôi kết thành vành tang đưa thơ Duật vào Trường Sơn để tạ lễ đám trai làng mà ông từng lừa mị:

                  PHẠM TIẾN DUẬT

              "Đường ra trận...đẹp lắm"

              Lừa mị lũ trai làng

              Chết hồn kết "vòng trắng"

               đưa Thơ vào Trường Sơn.

  Nhưng thôi, anh Duật đã mất rồi nên chúng ta không cần nói đến "luật nhân - quả" ở đây, vì kết cuộc anh đã bị trời báo ứng!

  Ngoài Chân dung các nhà thơ, nhà văn đã kể  trên, Lê Mai tôi còn chú ý tới Chân dung các vị bị xếp vào loại Nhân văn- Giai phẩm (chống đối chế độ) … tìm  ở Xuân Sách thì không thấy! Có cái gì "nhậy cảm", kỵ húy chăng mà ông phải né tránh? Nhưng may quá, tìm ở Nguyễn Khôi lại có :

                 HOÀNG CÔNG KHANH

                 Tù Tây , lại tù Ta

                "Quyền được rên" chẳng có

                 Bởi luôn đòi Tự Do

                Gánh văn là gánh khổ.

Theo chỗ chúng tôi biết, nhà văn Hoàng Công Khanh có một số phận kì lạ. Mọi diễn biến của đời ông đều gắn chặt với hai chữ tự do. Nhớ khi Hoàng Công Khanh bị tù Tây ở Sơn La

Ông Tô Hiệu, đã gợi ý ông Khanh vào Đảng, nhưng ông đã khéo léo từ chối "anh cho em ở ngoài tổ chức, để có tự do mà viết văn". Nhớ lần trong  Hội nghị chỉnh huấn "đánh" Nhân văn- Giai phẩm, ông lại buột miệng nói:"Viết văn không có tự do thì không thể viết được!" Thế là ông lại được đi tù. Lại nhớ lần đang ở tù ông được viên giám thị trại giam gọi  lên cho tự do để ngồi viết kịch phục vụ Hội diễn văn nghệ giữa các nhà tù. Nhờ "thành tích" sáng tác đó mà Hoàng Công Khanh được ra tù về với gia đình ở Hà Nội, để rồi lại được  “tự do" thất nghiệp(! !!???) Và đời ông, đến cái quyền “tự do” tối thiểu nhất của con người là "Quyền được rên” cũng không có!

  Đến thời kỳ Đổi Mới  mở cửa, tưởng rằng Văn nghệ sĩ đã được "cởi trói”, sự ấu trĩ tàn khốc của thời Nhân Văn- Giai phẩm tưởng không bao giờ tái diễn lại nữa. Nào ngờ, lúc này Xuân Sách đã mất được trên 20 năm, thế thì Nguyễn Khôi lại phải khắc chân dung :

           NHÃ THUYÊN

     "Nhà xuất bản Giấy vụn"

      Mấy thầy cô muốn "nghiên"

      cánh "Phê bình chỉ điểm"

      "Chém" cô trò Nhã Thuyên.

   Cái này thì phải thông cảm với Xuân Sách thôi, sự kiện này nó  mới xảy ra, mong vong linh ông siêu thoát và mỉm cười nơi Tây phương cực lạc!

 

   Nguyễn Khôi nhắc đến "vụ Nhã Thuyên" phải chăng ông muốn nhắn nhủ chúng ta, đổi mới là sự nghiệp cực kì khó khăn phức tạp, đặc biệt là đổi mới tư duy. Công cuộc đổi mới đã tiến hành vài chục năm mà ngay trong đội ngũ trí thức tiên tiến vẫn còn những loại người như:

            NGUYỄN VĂN LƯU

         Hơn lão Vũ Đức Phúc

         Vượt trên tầm Đông La

        "Luận chiến văn chương"...hả ?

         Chỉ điểm bãi tha ma.

  Chúng tôi đã khóc khi biết về thân phận hiện nay của các nạn nhân trong vụ Nhã Thuyên. Họ  chỉ là những  người phụ nữ đẹp và tài, trung thực, tử tế vốn chỉ biết mưu sinh, và khát khao cống hiến cho nền khoa học nước nhà. Họ có tội gì? Thôi thì đành nhờ Nguyễn Du “Trăm năm trong cõi người ta / Chữ tài chữ chữ mệnh khéo là ghét nhau” cho lòng mình thanh thản! Còn thực chất Nguyễn Văn Lưu ra sao? Xin mọi người hỏi những nhà văn dự Đại hội Nhà văn Hà Nội (lần 1, năm 2016) thì sẽ rõ chân tướng ông ta. N hưng thật buồn, ngay tại thời điểm hiện nay, loại phê bình chỉ điểm ấy vẫn còn đất dụng võ, vẫn tác oai tác quái. Ta hãy xem chân dung số 57 của nhà thơ Nguyễn Khôi:

VI TÙY LINH

Chẳng cần tốc váy đỏ

“Quốc sư” vẫn say thơ

Văn em không có sex

Đếch ai thèm tìm mua.

Chúng nó chỉ ông nào là “Quốc sư” của cái nước Việt nghìn năm văn hiến này. Tôi nhớ, đóng góp to lớn của ông là việc đề xuất lấy hoa mào gà làm “quốc hoa” cho đất nước chúng ta. Đề xuất ngớ ngẩn tới mức một tiến sĩ rất khát khao cống hiến phải bật thét lên: - Thưa cụ, con đã đi khắp đất nước này, con thấy hoa mào gà đéo có thuộc tính nào có thể vin vào làm biểu tượng quốc hoa được. Họa chăng chỉ có mào con gà trống oai hùng (Đêm nằm thì gáy o o / Sáng ra đạp mái không lo trả tiền) ! Xin tiến sĩ hãy bình tâm trên đất nước này hoa mào gà có thể là không tiêu biểu, nhưng bệnh sùi mào gà thì chắc chắn sẽ rất đặc trưng ! Bài chân dung Vi Thùy Linh mở đầu tôi thấy rất lạ. Sao chẳng cần tốc váy đỏ “Quốc sư” vẫn say thơ”? Nguyễn Khôi muốn khắc họa chân dung Vi Thùy Linh hay chân dung quốc sư? Hay ông muốn mượn việc khắc chân dung để nói lên cái nhí nhố của thời cuộc kiểu Xuân tóc đỏ của Vũ Trọng Phụng hay:

Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt

Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng

                       (Nguyễn Khuyến)

   Viết đến đây, Lê Mai tôi giật mình nhận thấy phải thế chăng mà Nguyễn Khôi còn khắc họa Chân dung của một số nhà văn trong "Ban vận động Văn đoàn Độc lập" mà người đứng đầu là:

                  NGUYÊN NGỌC

             Chết rồi Anh hùng Núp

              Rừng Xà nu bị nghiền

              lập "Văn đoàn Độc lập"

              mơ "Đất nước đứng lên".

 Ta hãy xem lại 25 năm trước, Xuân Sách nói về Nguyên Ngọc :

              Mấy lần Đất nước đứng lên

            Đứng lên cũng mỏi cho nên phải nằm

              Hại thay một Mạch nước ngầm

            cuốn trôi Đất Quảng lẫn Rừng Xà nu.

 Ở đây chúng tôi thấy có sự đồng điệu về cách đánh giá khi tạc Chân dung Nguyên Ngọc của Nguyễn khôi và Xuân Sách. Nhưng đến Trần Đĩnh thì ta lại phải thông cảm với ông Xuân Sách thôi, Lại xin ông mỉm cười nơi chin suối!

                    TRẦN ĐĨNH

              Chính sự theo "Đèn Cù"

              "Bất khuất" nên bị thiến

              Đang diễn Hề hầu vua

              Hí trường đột tai biến.

  Đọc "Chân dung 99 Nhà văn Việt Nam đương đại" của Nguyễn Khôi, còn nhiều điều khiến chúng ta phải suy ngẫm ở cái thì hiện tại  với "Chính sự theo Đèn Cù"/ "Quyền được rên" chẳng có!... Ông Nguyễn Khôi ơi! Đọc "Chân dung 99 Nhà văn Việt Nam đương đại" của ông, chúng tôi không chỉ thấy chân dung chân tướng các nhà văn

mà còn thấy sự xoay vần của thế cuộc. Nguyễn Khôi thực sự là "Người thư ký của Thời đại" mà chúng ta đã và đang sống qua khắc họabằng Thơ. Là nhà văn đọc tác phẩm “Chân dung 99 nhà văn Việt Nam đương đại” của ông tôi ngẫm mà hổ thẹn!

Hà Nội , ngày 2-6-2017

LÊ MAI

( Nhà văn Hà Nội)

 

 

 

HÌNH NHƯ TRONG SỮA CÓ MÁU

Truyện ngắn

 

Diệp bồn chồn đi đến tủ lạnh vơ vội chai La vi mát lạnh dốc ừng ực vào mồm. Bé Kiều Trinh vẫn thiêm thiếp trên chiếc giường nệm êm ái, trắng bong. Bỗng bé mỉm cười vu vơ. Nụ cười mụ dạy. Nụ cười thánh thiện làm lòng Diệp lắng xuống. Chị ngồi xuống bên con rồi trìu mến thơm lên trán bé. Hương thơm trẻ thơ ngất ngây... Chị ngắm nhìn con - lần thứ một ngàn lẻ một. Con bé có nhiều nét giống cha quá. Con gái giống cha giàu ba đụn. Là người mẹ chị biết, con nào giống cha chẳng sướng. Giống cha, tránh được biết bao nhiêu phiền toái, nghi ngờ. Kể cũng lạ, những đứa bé mới sinh đứa nào chẳng dúm dó nhăn nheo như khỉ, đến mẹ nó còn chưa kịp nhận ra những nét giống cha, giống mẹ mà người ngoài chỉ thoáng nhìn đã đọc ra vanh vách. Là người có học cao nên suốt thời kỳ mang thai Diệp cứ mừng lo phấp phỏng: Đâu phải chỉ có yếu tố" di ruyền, còn môi trường, còn sự ám ảnh... Nhưng rất hay, càng ngày Kiều Trinh càng bộc lộ nhiều nét giống cha. Diệp vui mừng khoe những phát hiện đó với chồng. Thất (chồng chị) ngồi nghe với thái độ dửng dưng có phần lãnh đạm và phũ phàng hơn anh còn buông lời tủng tẳng: Còn phải đợi xem oẳn tà roằn thế nào? Lòng tự trọng, sự thuỷ chung của Diệp bị tổn thương nghiêm trọng nhưng chị dằn lòng nín lặng vì linh cảm trong thái độ của chồng có chứa một cái gi đó thật tàn ác, bất nhân. Chị nghĩ: Đối với hạng người này, câm lặng là tốt nhất. Câm lặng không chỉ vì một điều nhịn chín điều lành mà để còn lắng xem con tạo xoay vần ra sao để... Diệp nhớ về thời sinh viên. Diệp vào trường đúng lúc gia đình chị tan vỡ. Bố mẹ chị bỏ nhau. Lẽ ra Diệp cũng phải bỏ học nhưng Diệp không khuất phục. Để có được ngày nay Diệp phải đổ biết bao mồ hôi, nước mắt kể cả những nhọc nhằn cay đắng. Chút sung sướng có được đâu phải dễ dàng gì. Diệp nhớ đến những ngày phải vừa làm vừa học. Đêm mò được về tới ký túc xá mắt đã díu lại. Lăn xuống giường là “ngất” luôn tới sáng. Sáng bật dậy bước vào phòng thi luôn. Học thế thì đầu óc có siêu phàm như Anbe Anhxtanh thi cũng trượt. Thế mà Diệp thi vẫn đỗ. Đỗ cao là đẳng khác. Nghĩ tới đây Diệp mủi lòng nhớ về thày Tuấn. Người thày hiền hậu và thơ ngây của Diệp. Đối với ông quả là chị có hơi quá đáng nhưng không đến mức như thiên hạ đồn: Ông bị quả lừa. Họ nói: Ông cúc cung phục vụ nó (nó tức là chị) suốt mấy năm trời để rồi ra trường một cái nó phắn ngay. Không! chưa bao giờ chị định lừa ông cả. Chỉ có những kẻ táng tận lương tâm mới nỡ lừa một con người nhân hậu và thơ ngây như ông. Nhưng phải công nhận mình có tận dụng ông hơi nhiều. Có lấy của ông nhiều mà cho chẳng bao nhiêu. Nhưng biết làm sao được, vì hoàn cảnh của mình lúc ấy nó đòi hỏi phải thế. Thế mới biết trong cuộc sống con người kinh tế thật là quan trọng. Diệp nhớ tới nguyên nhân dẫn đến việc ly dị của bố mẹ mình... Mẹ chị, cô giáo cấp 3 xinh đẹp phải nói là kiêu sa, sang trọng đối với một làng quê xơ xác có gì hợp với một anh lái xe vận tải đường dài, trình độ văn hoá cấp 2. Ngày cha còn làm ăn được, cái tật rượu chè của ông đâu phải là nỗi ám ảnh trĩu nặng trong nhà mà nhiều khi nó lại là cái cớ để tạo nên những kỷ niệm ấm áp trong lòng. Diệp không thể nào quên cảnh, sau những đợt đi xa dăm bữa, nửa tháng bố lái xe về nhà. Mẹ con chị hớn hở ùa ra cổng đón bố! Bố cười rất tươi rồi tặng quà từng người. Mẹ con chị tíu tít chợ búa về nấu nướng, cả nhà vui vẻ quây quần quanh mâm cỗ ngồn ngộn thức ăn ngon. Bố rót rượu cho cả nhà. Những cái chén hạt mít sóng sánh ánh rượu, thoảng thơm mùi lúa nếp. Mắt mẹ long lanh. Má mẹ ửng hồng. Có những lần bố về nhà vào lúc nửa đêm. Mưa phùn gió bấc buốt trời, cả nhà bừng dậy đón bô. Mặc bố ngăn, mẹ chị vẫn khoác vội áo mưa lao vút vào màn đêm tê cóng. Mẹ đến nhà ông Vân, cách nhà trên 2 cây số mua rượu cho bố uống. Rồi có lần vui bạn vui bè bố say, bố xỉn. Mẹ dịu dàng đỡ bố ngả xuống giường. Mẹ giã gừng, lấy đường pha trà cho bố uống. Mẹ bôi dầu. Mẹ cạo gió. Mẹ đợi bố thiêm thiếp ngủ rồi khẽ khàng bôi vôi vào thái dương, vào cổ, vào gan bàn chân... Những hình ảnh đó khắp vào tâm trí trẻ thơ của chị như một biểu tượng cao cả của tình nghĩa vợ chồng, của hạnh phúc lứa đôi. Cho đến một ngày, bố gây tai nạn vì say rượu. Của cải ào ào đội nón ra đi. Của cải trong nhà ít dần thì mâu thuẫn trong nhà tăng lên. Những cái tật “đáng yêu” ngày trước nay trở thành nguyên cớ cho những trận đào bới xới lộn lẫn nhau, khó cai hơn cai rượu. Càng lớn Diệp càng khẳng định vai trò kinh tế của một người chồng có văn hoá và vị trí xã hội đối với cuộc sông gia đình. Trong thẳm sâu lòng mình Diệp chẳng có gì chê Vọng (người bạn thủa ấu thơ). Chị không lấy Vọng chỉ vì chị không thể sông hạnh phúc trong cảnh vợ hồ hởi gánh phân, chồng vui vẻ “vắt vắt diệt diệt”. Nếu hạnh phúc đời người chỉ đơn giản như thế thì dùi mài kinh sử để mà làm gì. Làng chị, có lẽ phải vài trăm năm nay mới có người đỗ cao như chị. Dẫu biết rằng đỗ thế chứ đỗ cao hơn nữa cũng chẳng có bảng vàng bia đá mà ghi, bởi cả làng chỉ có phiên đá duy nhất đã được kê gần giếng làm nơi giặt giũ. Nhưng đời là phải thế. Vọng đơn giản quá. Anh thường tâm niệm: Hạnh phúc là sự tự thoả mãn với những gì ta có. Điều này có một cái gì đó như yếm thế, như diệt dục, lại phảng phất mùi AQ. Đời mình không thể đơn giản như thế được. Còn con cái nữa chứ. Thời đại hai trái tim vàng giữ cho túp lều tranh không sụp đổ đã vĩnh viễn qua rồi. Giờ đây một ngôi biệt thự nguy nga bền vững sẽ có sức gắn kết bền chặt hai trái tim dù là sắt gỉ. Là thạc sĩ văn chương chị có thể đánh cuộc với đời rằng: Phụ nữ có ham mê tiền tài, quyền lực của đàn ông cũng là điều có thể hiểu được và dễ thông cảm. Bởi lẽ bản tính phụ nữ rất cần chỗ dựa tin cậy và sự chở che. Nếu có gì đáng trách là trách anh đàn ông tại sao không phấn đấu không giành giật để có tiền, tài, địa vị. Điểm này thì Vọng kém xa Thất. Diệp nhớ về những ngày đầu của cuộc sống vợ chồng. Vợ chồng chị phóng con Drim tới chợ người Giảng Võ để thuê người về đào bể phốt, sửa khu toa lét. Xe chưa kịp dừng bánh người đói việc xô tới ào ào. Trong cái đám người lếch thếch ấy chị giật mình nhận ra Vọng và cảm ơn trời Vọng cũng nhận ra chị nên cúi gằm đầu lẻn mất. Diệp thầm cảm ơn Vọng không đẩy chị vào thế xấu hổ trước mặt chồng. Nhưng tối đó nằm cạnh chồng, chị cứ thấy hình ảnh Vọng trước mắt. Vọng gầy quá! Nhếch nhác quá! Khuôn mặt vêu vao cam chịu đến nhói lòng. Diệp day dứt ân hận chỉ vì chút sĩ diện mà chị thành con người quá tệ, không hỏi thăm Vọng được đến một câu. May mà sáng hôm sau khi Diệp dắt con Drim ra khỏi cổng thì gặp Vọng đang như một đông rác di chuyển trên hè phố. Qua trò chuyện chị biết: Thì ra, Vọng đã mò ra Hà Nội làm thuê. Anh đang ở trọ trong một cái lều sơ sài, xiêu vẹo như chuồng trâu nằm sát toà nhà 4 tầng nguy nga của chị. Khổ quá, cái lều ấy người ta dựng tạm để khẳng định chủ quyền của người chủ mảnh đất, có phải nhà đâu mà anh thuê ở? Diệp thực sự mủi lòng thương xót khi biết Vọng làm quần quật cả ngày mà thu nhập không bằng bữa ăn sáng của riêng chị. Rồi chị rủ Thất sang thăm Vọng. Thất của chị những ngày đó thật tuyệt vời, cao sang mà gần gũi, xa lạ mà cảm thông. Lúc ấy Thất mới là trưởng phòng. Cái chức mà Thất xếp vào hạng đầu binh cuối cán, không đủ quyền để trù ai nhưng cũng không ai nỡ ghét mình, cái chức mà có chút lương thêm chút lậu, thừa nuôi vợ nhưng chưa đủ nuôi bồ... Những ngày đó Thất đối xử với chị thật dịu dàng, trân trọng. Giờ đây Thất là giám đốc, nhà chị không thiếu thứ gì, vật dụng trong nhà toàn đồ sang, đồ xịn. Thế mà... Diệp lẩm bẩm một mình: Trường hợp bố mẹ mình thì của cải trong nhà đội nón ra đi... Trường hợp mình thì của cải ngoài đường đắp chăn ùn ùn kéo tới... Chị lại thấy gương mặt Thất. Gương mặt lúc Thất quăng tiền lên mặt bàn. Gương mặt lúc Thất hãnh tiến nói với bạn bè... Một cái lạ hơn tạ cái quen... Con gì ăn ít nói nhiều... Từ ngày chị sinh con, Thất đi về thất thường, chị có nhắc thì lập tức cau mặt quát: Họp. Đi họp chứ đi đâu! Có chức, có quyền, có tiền, có thư ký đẹp làm gì chẳng họp triền miên. Chỉ nghĩ tới đây là cục ức lại từ đâu dâng nghẹn cổ Diệp, Oẳn tà roằn! Oẳn tà roằn! Thật khốn nạn. Bé Kiều Trinh là sản phẩm hoàn hảo của chị và Thất. Chị biết rõ điều đó. Thất biết rõ điều đó. Nỗi nghi ngờ tưởng như ngớ ngẩn của Thất thật sự là nham hiểm, đểu cáng. Lũ “Gơ ben” đang dọn đường dư luận. Nghĩ tới đây nước mắt Diệp ứa trào. Mệt mỏi, Diệp nằm xuống cạnh con rồi cố gạt những hình ảnh của Thất ra khỏi đầu. Diệp hướng tâm trí trở về những kỷ niệm thuở ấu thơ... Trước mặt chị là cánh đồng lúa cằn cỗi, mịt mù hơi nước. Gió lạnh thốc ào ào. Những lá lúa gày guộc, lập cập, run rẩy, bé Diệp chân đất, quần thâm, môi thâm, mặt tái nép mình dưới bụi dứa dại tránh gió chờ Vọng. Vọng thì nghiến răng dầm mình dưới làn nước lạnh. Nước lạnh tới mức chỉ nhìn màu mốc cũng thấy nổi da gà. Mỗi lần Vọng nhô đầu khỏi mặt nước tay giơ lúc con trai, khi con ốc lẫn bùn rác lại nhoẻn cười với Diệp. Nụ cười nhợt nhạt tê cứng như mặt người chết trôi. Diệp bồi hồi xúc động... Lại còn cái quần đùi bộ đội rộng thùng thình, thủng đít nhiều khi sơ ý Vọng ngồi thòi cả ra. Diệp khẽ lắc đầu tủm tỉm cười. Diệp nhớ tới đêm trăng ngày tiễn Vọng đi bộ đội. Hai đứa kẻ trước, người sau lững thững đi trên bờ mương. Trăng quê chị đẹp lạ lùng, tròn vành vạnh, xanh trong, thơ ngây và đẹp như mặt gái làng vừa qua cơn sốt nhẹ, có chút dỗi hờn. Gió quê chị cũng quyến rũ lạ lùng, nó nhẹ nhàng có chút gì như dụt dè, bẽn lẽn, nó thơm thảo man mác hồn quê... Chị bỗng nhớ quê hương cồn cào. Có lẽ phải đến hơn năm nay mình không gặp Vọng - chị tự nhủ và bỗng thấy lo lo. Linh cảm báo cho Diệp biết một điều gì không ổn đang đến với Vọng. Tiếng vọng Rô chec tơ là có thật. Diệp cố nghĩ về Thất để mong gạt đi cái gương mặt vêu vao, võ vàng của Vọng nhưng không thể được. Lần gặp trước Vọng quá gầy. Hình như có tiếng thều thào của Vọng. Vọng gặp tai nạn gì? Cứ nằm nghĩ vẩn vơ thế này sốt ruột cũng đủ chết. Diệp nhỏm người dậy và quả quyết bồng bé Kiều Trinh sang thăm Vọng. Đúng là gần nhà xa ngõ. Không hiểu giờ này Vọng có nhà hay không? Không có nhà càng hay, vì thế là Vọng khoẻ, Vọng đi làm. Cửa nhà Vọng không khoá. Diệp khẽ đẩy cửa bước vào. Trong cái không gian mờ mò ảo ảo tanh nồng mùi bệnh, Diệp nhìn thấy rõ Vọng nằm như một xác chết trên chiếc giường cá nhân cũ kỹ. Vọng đây ư? Người bạn nối khổ ngày xưa của mình đây ư? Nỗi thương cảm bỗng trào dâng trong lòng Diệp. Trong cái rưng rưng của không gian mông lung Diệp thấy rõ Vọng đang cắm đầu chạy băng qua cánh đồng ngô Bãi Trước. Bóng Vọng nhỏ dần, nhỏ dần rồi tụ lại thành một điểm sáng, sáng rực rồi nhờ nhợ, chập chờn. Vọng trốn Diệp vì xấu hổ, vì sợ Diệp dỗi hờn, vì Vọng đã dám bế Diệp từ dưới sông lên bãi. Vọng ơi, việc gì Vọng phải xấu hổ, phải trốn. Diệp phải cảm ơn Vọng chứ. Vọng cứu Diệp khỏi chết đuối cơ mà. Nưốc mắt Diệp ứa trào. Chị tiến đến gần, Vọng vẫn nằm bất động. Hai hố” mắt Vọng trũng sâu. Hai má tóp lại. Mặt Vọng hốc hác như cái đầu lâu. Diệp đặt con nằm xuống cạnh Vọng rồi khẽ khàng nâng hai cánh tay anh. Tay Vọng đầy gân xanh, những đường gân nhợt nhạt bất động. Những mạch máu này đã từng tiếp máu cho mình sống đây. - Diệp thút thít nói một mình. Chị thận trọng áp đôi tay thon nhỏ mịn màng như ngó sen của mình vào hai hõm má Vọng rồi dịu dàng lay gọi:

- Anh Vọng! Anh Vọng! Anh làm sao thế này?

Mí mắt Vọng động đậy rồi rất từ từ, rất khó nhọc mở ra.

- Anh Vọng, anh có nhận ra em không? Diệp đây! Diệp đây! Em Diệp đây!

Bỗng mắt Vọng bật lên một nét nhìn gì đó rất quen thuộc. Diệp thở phào nhẹ nhõm: Thế là anh nhận ra mình rồi. Bao giờ cũng thế, khi mình giận dỗi, khi mình nũng nịu là anh có ánh mắt này.

- Em xin lỗi. Anh ốm thế mà giờ em mới biết. Tha lỗi cho em anh nhé. Anh đã ăn uống gì chưa?

Những ân hận, những xót xa đã biến thành nước mắt chảy thành dòng trên má Diệp. Chị nói trong tiếng nấc:

- Em nấu cháo cho anh nhé.

- Đừng... Đừng... Em ngồi đây. - Vọng nói chậm chạp và yếu ớt.

- Anh ăn cháo nhé.

- Kh... ông...!

- Anh ăn phở nhé?

- ... Kh... ông...!

- Anh uống nước cam nhé.

- ... Kh... ông...

- Vậy anh thích ăn gì?

- ... Có... Có... ó... chút... sữa...!

- Đợi em tí chút nhé. Em về nhà lấy, có ngay đầy.

- ... Đừ... ừng... Đừ... Không... kịp đâu. Cái chết... chết... đã lên quá. .. đầu gối... rồi... ồi...

Diệp nắm chặt hai bàn chân Vọng. Diệp hoảng hốt nhận ra điều Vọng nói. Anh nói đúng, bàn chân anh đã lạnh buốt, đã không còn sinh khí. Bỗng đôi mắt Vọng từ từ hé mở, ánh mắt đầy vẻ van lơn và anh nói rất nhỏ nhưng rõ ràng:

- Ngồi bên anh... cho đến lúc anh đi... Được... được thế này là... đời anh mãn nguyện rồi...

Vụt loé trước khi tắt ngấm đây - ý nghĩ này làm toàn thân Diệp run bần bật. Diệp vừa thảng thốt nói: Không! Không! Anh không được nói gở! vừa ngồi vội lên giường và thận trọng nâng đầu Vọng áp vào bầu vú căng mọng sữa của mình. Vài giây tinh lặng vô hồn trôi qua. Rồi bỗng Diệp thấy trong ngực mình hình như có sự chuyển động dù rất nhẹ. Mình đã tiếp sữa được cho anh, cũng như xưa anh đã tiếp máu cho mình. Ý nghĩ này dấy lên trong Diệp chút hy vọng mơ hồ. Đời chẳng từng đã có trường hợp được cứu sống vì mấy thìa nước cháo ư. Chị lắng mình để cảm nhận.

Đúng lúc này Thất về nhà. Hình như có tiếng khóc như lạc giọng của bé Kiều Trinh từ nhà Vọng vọng ra. Bên ấy có chuyện gì chăng? Thất hấp tấp rẽ sang nhà Vọng. Thất sững người trước cảnh vợ anh đang chăm chút cho Vọng bú ngay trong tiếng khóc như xé lòng của bé Kiều Trinh.

- Đồ súc vật! - Thất thét lên và lao vào.

Thất tát một cú như trời giáng vào mặt Diệp. Diệp bật người, bật mặt về phía sau. Điên cuồng, Thất xoay lại giơ tay định bóp vào cổ Vọng... Nhưng... Thất sững người... Hình như Vọng đã chết tự lúc nào. Từ khoé miệng Vọng rỉ ra một vệt sữa rất nhỏ, rất ngắn, nhờ nhợ trắng, xen những tia hồng. Hình như trong sữa có máu!.

 

Nhà Văn Lê Mai (Phải) 

 

Bildergebnis für BẦU TRỜI XANH

 

MẶT TRỜI XANH

 

 

Có tiếng gõ cửa rụt rè. Ông Nhân nhẹ nhàng đỡ vợ nằm xuống giường rồi vội vàng ra mở cửa. “Ai thế nhỉ?” Ông tự hỏi mình. Gần 20 năm nay, từ ngày ngưng nghỉ “chèo đò”, ông đã quá quen với cảnh bến mình đìu hiu, quạnh vắng.

Trước mặt ông là một người khách lạ, người gày gày, da mai mái nhưng thần thái vẫn rực lên những nét quyền uy, lịch lãm.

-   Thầy có phải là thày Nhân không ạ? Người khách lạ rụt rè hỏi.

-   Vâng. Tôi là Nhân. Ông gặp tôi có việc gì ạ?

-   Thầy không nhận ra em sao?

Ông Nhân chăm chắm nhìn người khách rồi khẽ lắc đầu. Nhưng vẫn có những nét gì ngờ ngợ trong ông. Từ ngày về hưu tới giờ, thi thoảng ông vẫn có trò cũ tới thăm, nhưng đa phần những trò đó thủa nhỏ đều là những học sinh cá biệt, không ai có thần thái oai phong chững chạc như người khách này. Song nét mặt này.... Ông cố lục trong ký ức....Rồi ông bật lên câu:

-   Ông... Ông có phải là giáo sư tiến sĩ THIỆN TÀI.....trưởng....trưởng ban.... Ông...vẫn lên vô tuyến nói...nói hay lắm....nói hay lắm......

-   Thiện Tài là danh xưng thôi. Em là thằng Thất còm, con ông Chánh Đức ở Đậu Xá - Mỹ Xuyên, học trò cũ của thầy ở trường Quyết Thắng đây mà, thầy còn nhớ không?

-   Ối giời....Nhớ! Nhớ chứ! Đúng là vật đổi sao dời....Vào nhà đi! Vào nhà đi! Làm quan to đến thế này mà còn nhớ tới thày là quý lắm, hiếm lắm đó!

Ông Thiện Tài hớn hở bước vào nhà. Ông đưa mắt nhìn quanh cái không gian mờ mờ ẩm thấp. Đúng như ông dự đoán: nhà thầy nghèo, nghèo quá! Đồ vật duy nhất trong căn nhà này còn có thể bán được cho đồng nát là chiếc Tivi LG 14 inch đã cũ, cũ lắm. Còn các vật dụng khác thì....cho cũng khó có người nhận. Thương thày, mắt ông Thiện Tài bỗng nhoè đi. Ông thầm nghĩ: Biết làm sao được... Người lao động lương thiện....Lương ba cọc ba đồng lại còn tính thương người....

Ông Thiện Tài lễ phép đón chén nước ông Nhân đưa bằng hai tay rồi khẽ đưa lên miệng nhấp nhấp vẻ hài lòng. Ông Thiện Tài kín đáo nhìn cái chén và cả thứ nước trong chén. Ông mủm mỉm cười, nghĩ: Có lẽ đến vài chục năm nay chưa ai có đủ dũng cảm mời ông uống nước như thế này. Đợi cho ông học trò đặt chén nước xuống bàn, ông Nhân mới thủng thẳng nói:

-   Đời tôi, đến hôm nay đã ba lần đổi tỉnh, sáu lần đổi nhà mà anh vẫn biết tôi ở đây thì cũng tài. À mà, Thiện Tài cơ mà. Thiện tới đâu, Tài tới đâu mà làm quan to thế?

-   Danh xưng hão thôi mà thày. Thày còn lạ gì thói đời, thiếu cái gì thì khát cái đó. Thiện tài gì đâu mà thày hỏi cho em xấu hổ. Nói thầy thông cảm, suốt cuộc đời này chưa có lúc nào em dám quên ơn thày. Ngày đó không có mươi lon gạo thầy cho, không có lời dặn của thầy: Khó mấy cũng không được bỏ học thì em đâu có được như bây giờ. Vì bận mưu sinh chưa đến thăm thầy cô được, em rất hối hận. Nhưng mỗi bước biến đổi của thày em đều biết rõ. Bệnh của cô có khá lên được chút nào không thầy? Thày cho em vào thăm cô ít phút.

-   Bà ấy vừa chợp mắt. Chúng mình đừng làm phiền bà ấy. Mươi năm gần đây bà ấy cứ quên quên, nhớ nhớ; người ngợm chân tay cứ run run, rẩy rẩy. May mà tôi về hưu có thời giờ săn sóc không thì....Nghĩ cũng thấy xót xa, anh ạ. Giá mà mình có tiền thuốc thang, bồi bổ tốt hơn thì...Nhưng đào đâu ra anh. Lương hưu trong cái thời gạo châu củi quế này, khoẻ mạnh còn khốn khó thì nói gì đến ốm đau.

Ông ngừng nói, hai mắt nhắm nghiền như đang lạc vào cõi mộng. Rồi ông bỗng như bừng tỉnh, nở một nụ cười mụ dạy, ngượng nghịu nói tiếp:

-   Xin lỗi anh, kể lể miên man. Bệnh của tuổi già mà. Thôi, nói chuyện khác đi

-   Vâng! Thưa thày, gần năm chục năm nay em cứ canh cánh trong lòng câu hỏi: Ngày ấy, thày dám sai thằng Dũng mang gạo và lời nhắn tới cho nhà em, thày có sợ không? Trí - Phú - Địa – Hào đào tận gốc, trốc tận rễ cơ mà. Đã trí thức lại còn tiếp tay cho phong kiến đế quốc thì cầm chắc tru di tam tộc rồi.

-   Sợ chứ anh. Ngày ấy, người ta còn dám vận động con dâu tố bố chồng hiếp dâm man rợ khác gì tội đốt sách chôn học trò của Tần Thuỷ Hoàng, thì việc gì họ không dám làm. Thân bại danh liệt là cái chắc.

-   Cuộc cách mạng diễn ra trên một nền văn hoá phong kiến, lại còn bị thực dân đế quốc ngu dân thì tránh sao khỏi những biến tướng trở thành quái thai của lịch sử. Trong bối cảnh ấy, dám hy sinh thân mình để cứu những người không máu mủ ruột rà, không dây mơ rễ má thì thật lá khí phách, thạt là dũng cảm. Ơn ấy, nghĩa ấy em làm sao trả nổi.

-   Đừng phức tạp hoá sự việc lên như vậy. Hành động của tôi đối với gia đình anh lúc đó có gì là anh hùng, nghĩa hiệp, đâu dám sánh với khí phách anh hùng, hào kiệt của kẻ: Giữa đường thấy chuyện bất bình chẳng tha. Nó chỉ đơn giản là: Người lương thiện thấy người lương thiện sa cơ lỡ vận thì gồng mình, tái mặt mà giúp, được đến đâu hay đến đó, thế thôi. Tình người mà anh. Theo tôi biết, bố mẹ anh là người có học, học cao là đằng khác, lại là người nhân đức chỉ trị bệnh cứu người. Tổng mình lúc bấy giờ  nếu lôi lão đội Nhương ra tố thì sẽ ít oan hơn, ít ức hơn. Tôi nói vậy vì thực chất lão đội Nhương cũng chỉ là kẻ phu phen tạp dịch ở bên Tây. Về nước có chút của cải hơn những người nông dân kiệt quệ ở làng, lại do ít học nên nhiều lúc lão ra vẻ ta đây ngông nghênh, lấc cấc nên có nhiều người khinh, người ghét. Nhưng chẳng hiểu sao, đúng lúc đó lão ấy lại bỏ làng ra đi. Thế chẳng nhẽ lại là tôi à? Thế là bố mẹ anh phải vào thế chỗ. Việc nó chỉ thế thôi. Mà tôi hỏi khí không phải: Hôm nay anh sang tôi chơi hay còn có việc gì?

-   Có. Em còn muốn nhờ thầy giúp cho một việc. Chẳng biết thày có sẵn lòng giúp cho không?

-   Có việc gì anh cứ nói. Tôi không có thói quen rào trước đón sau. Giúp được đến đâu tôi sẽ cố đến đấy.

-   Việc của Dũng thày ạ.

-   Dũng nó có việc gì?

-   Thưa thày, dạo này Dũng nó ốm lắm. Chung quy chi tại cái nghèo thôi thầy ạ. Bệnh nó, nếu có tiền thuốc men chu đáo thì đâu đến nỗi. Nhưng nhà nó nghèo lắm, nghèo đến mức chi có ruồi muỗi đến chơi thôi. Em có tiền muốn giúp nó, nhưng biết nó sẽ không nhận. Chết nó cũng không nhận, khái tính lắm. Thày ạ! Em muốn nhờ thày lấy số tiền em đã chuẩn bị để thuốc thang tẩm bổ cho nó. Chỉ có cách duy nhất này mới cứu được nó thôi. Em biết, vợ chồng nó không dám từ chối sự giúp đỡ của thày đâu. Thày giúp em cứu nó nhé.

-   Của người phúc ta. Tiền của anh, ơn tôi được. Tôi không bao giờ làm thế đâu.

-   Thày ạ, cứu bệnh như cứu hoả. Nó khỏi bệnh rồi, thày trò mình cùng nói cho nó rõ, có gì thày phải lăn tăn.

-   Ừ.... ừ...Thế cũng được.

-   Em cảm ơn thày! Vừa nói ông Thiện Tài vừa thò tay vào cặp, rút ra một bọc nilon to cỡ chừng vài viên gạch, hai tay lễ phép đưa ông Nhân.

Không giơ tay đón gói quà, ông Nhân dè chừng hỏi:

-   Gói gì đấy anh?

-   Thưa thày, gói tiền.

Ông Nhân trợn tròn mắt nói:

-   Tiền! Tiền mà nhiều thế này sao? Anh mang về đi. Sau này cần dùng tới đâu ta mang theo đến đó cho gọn anh ạ.

-   Nhưng... Nhưng mai em phải đi công tác xa rồi. Dăm bữa nửa tháng nữa em mới về.

-   Đưa tiền cho vợ con giữ, khi nào đi công tác về, đến đây ta cùng đi.

Mặt ông Thiện Tài bỗng nhiên buồn rười rượi. Ông nói nhỏ và chân thành:

-   Thày ạ. Vợ con em đã bỏ em lâu rồi. Hiện nay họ đang làm ăn ở Mỹ. Giàu lắm. Giàu tới mức không còn tình người. Khi thong thả em sẽ thưa hết chuyện để thày rõ. Em sống độc thân đã lâu rồi.

Ông Nhân khẽ thở dài, nói:

-   Thôi, đưa tôi giữ cho. Công việc xong nhớ đến đây ngay ta cùng đi anh nhé. Nhớ đến ngay đấy. Để tiền nhiều trong nhà tôi sợ lắm. Anh thông cảm cho tôi.

Đợi thầy nói hết câu, ông Thiện Tài đột ngột đứng dậy, khẽ ghì thày vào lòng, mắt ông nhoè lệ. Rồi cũng đột ngột ông chào thày ra về. Có một cái gì đó tồi tội, thê lương.....

***

Hơn 2 tháng nay, ông Nhân không dám đi đâu lâu, tưới rau cũng vội vàng, đi chợ cũng quáng quàng vội vã. Ông lo. Thời gian đầu ông lo đống tiền lù lù trong tủ, nhỡ mất cắp thì mang tiếng cả đời. Đào đâu ra tiền mà trả. Rồi còn căn bệnh của Dũng. Dũng nó mắc bệnh gì? Cứu bệnh hơn cứu hoả. Nhanh một ngày. Chậm một ngày....Rồi thời gian sau ông lo sang Thiện Tài. Công tác gì mà lâu thế? Có trục trặc gì không? Cỡ quan ấy  nếu gặp mệnh hệ gì thì thiên hạ đã ầm lên rồi. Ông ngồi nhà đợi trò mà long như thiêu như đốt. Ngu quá! Dốt quá! Sao hôm ấy ông không ghi lại số điện thoại của Thiện Tài, không hỏi địa chỉ cơ quan, không hỏi địa chỉ nhà ở.....Giờ đây ông chẳng biết liên hệ với ai. Ông chỉ còn cách ngồi chờ...chờ....và chờ...

Có người đến. Ông lao ra cửa. Người khách lạ nhìn ông từ đầu xuống chân rồi nhẹ nhàng hỏi:

-   Thày có phải là thày Nhân không ạ?

-   Vâng. Tôi là Nhân. Anh đến có việc gì?

-   Dạ. Có lá thư anh Thiện Tài gửi thày.

Người khách đưa lá thư cho ông rồi về ngay. Ông Nhân lập cập đeo kính rồi mở thư ra đọc. Lá thư viết:

 

“ Thưa thày! Khi thày cầm trên tay lá thư này thì em đã vĩnh viễn đi xa. Em đã chết.”

 

Luồng dương khí thoát nhanh khỏi cái cơ thể vốn đã già, lại còn suy dinh dưỡng của ông Nhân. Ông rã rời tay chân. Ông lặng người, mặc mấy giọt cặn lệ nhoè tan đi trong đôi mắt. Lặng người một lúc, ông run rẩy đọc tiếp:

 

“ Cái chết đối với em không đột ngột. Nó đã được các giáo sư lừng danh dự đoán chính xác tới tận ngày.

Thưa thày!

Lần vừa rồi em đến thăm thày, thày có hỏi “Thiện đến đâu, Tài đến đâu mà làm quan to thế?”

Thày ơi, thời này có phải thời Lê Thánh Tông đâu mà thày nhắc đến Thiện, Tài. Quan trường là chiến trường khốc liệt, vì chính nó đẻ ra quyền lực - tiền tài - danh vọng. Ở đó không có chỗ cho lương thiện, hiền tài. Đời em là  một chuỗi dài các sự dối trá. Như lẽ tự nhiên, càng làm quan to lời nói dối càng đậm nét chân thành. Chắc thày còn nhớ ngày em đến thăm, em có gửi thày một số tiền để thày trò mình chuẩn bị đến thăm Dũng. Đó là lời nói dối cuối cùng của đời em đấy. Dũng nó đã hy sinh từ năm Mậu Thân, chưa vợ, chưa con. Biếu được số tiền để thày cô phần nào bớt được sự khốn khó trong cuộc sống chồng chất khó khăn này làm sự ra đi mãi mãi của em trở nên thanh thản. Đời mình cũng có lúc làm được việc nghĩa nhân, theo mong muốn của thày.

Thày ơi! Đến lúc chết em mới hiểu lời dạy của thày: Học để làm Người chứ không phải học để làm Quan.

Làm Người thì ií tiền, ít quyền và khốn khổ.

Làm Quan thì nhiều tiền, nhiều quyền nhưng khốn nạn.

Nếu có kiếp sau, phải lựa chọn hai cái khốn, thì em xin vui lòng đứng vào phe những người khốn khổ. Khốn đấy! Khổ đấy! Nhưng thanh thản, thấm đẫm tình người. Còn khốn nạn thì....Chỉ nghĩ tới đó em đã rùng mình...

Để minh chứng cho sự giác ngộ của mình, em có gửi cho anh em trong cơ quan bài thơ sau, thày xem có được không nhé:

MẶT TRỜI XANH

Đừng cho phủ hoa lên mộ của Anh

Đó là sự dối trá.

Cả đời Anh chưa một lần vinh quang tử tế

Sao hôm nay hoa nhiều đến thế?

Tầng tầng – lớp lớp đè tức ngực Anh.

Em hãy xem

Những bông hoa biết thẹn

Những vòng hoa biết xộc xệch héo tàn

Đốt cho anh nén nhang

Đốt càng nhiều càng tốt.

Lửa sẽ làm cạn khô những giọt nước mắt cá sấu

Lửa sẽ thiêu cháy những lời nói dối chân thành

Lửa sẽ làm môi trường quanh anh thanh sạch.

Lần đầu tiên trong đời, Anh thấy: MẶT TRỜI XANH.

 

Thày ơi! Những kỷ niệm ấm áp về thày, tình thày, đời thày đã mở cho em (một ông quan - một kẻ đang hấp hối), một cuộc đời mới với trang đầu bằng lá thư này,với những lời nói thật...”

Đặt lá thư xuống bàn ông Nhân thờ thẩn ngứơc cặp mắt hoen rỉ nhìn vào khoảng không mờ ẩm trước mặt. Không gian bổng chuyển màu ngọc bích xanh suốt mang mang ... và phía xa, xa thẳm của không gian ngọc bích một đốm sáng nhập nhoà nhấp nháy như vẩy như gọi ông ... mông lung, mờ ảo. Ông vật người ra nghế cố ghìm tiếng thở dài. Tiếng thở buồn, tê tái như hơi thở của rừng già heo hút.

 

LÊ MAI

p 703 – N5A khu đô thị Trung hoà Nhân chính phường Nhân chính 

quận Thanh xuân- Hà nội

đt : 0422153125

 

 

 

 

Truyện ngắn dự thi

CÁI NGHỀ CỦA MÌNH NÓ THẾ

        QUÍ TẶNG CÁN BỘ CHIẾN SĨ CÔNG AN- QUẬN THANH XUÂN- HÀ NỘI

Đóng chặt cửa, tắt điện thoại , bật điện sáng choang ,đặt giấy bút ngay ngắn trước mặt rồi Thắng ngồi ngay ngắn vào bàn làm việc và cố tập trung suy nghỉ, hồi tưởng lại sự việc vừa qua... phải ,nghĩ cho chín rồi thì ... kiểm điểm hay thôi việc.                  

         Thứ ba tuần trước... khoảng 9 h sáng ... một đồng chí bộ đội dáng nhô nhắn, mặt hiền ... vi phạm luật giao thông .Ông buồn buồn trình bầy với

Thắng vê hoàn cảnh của mình . Sáng nay đơn vị ông có một việc quang trọng buộc ông phải đến đúng giờ . Nhưng... tối qua, lũ bạn học con ông lại kéo tới nhà nói: con ông vừa mắc khuyết điểm nghiêm trọng. Thày chủ nhiệm yêu cầu đầu giờ học hôm nay bố mẹ phải đến trường gặp thầy nếu không con ông sẽ bị đuổi học .Trên đường từ trường về đơn vị vừa buồn vừa vội nên ông vô tình phạm luật mong anh thông cảm cho ông . Nghe ông nói , Thắng thấy chạnh lòng ... cái thiệt thòi của các lực lượng vũ trang là thế đấy. Lương ba cọc ba đồng tiền đâu mà thuê gia sư dạy thêm cho con . Thời gian đâu cùng con học tập rèn luyện . Chẵng nói đâu xa , ngay trong đội anh , thiếu gì anh chị con cái mặt mũi sáng như gương Tàu mà học hành vẫn lởm khà lởm khởm. Nỗi khổ này ai thấu cho chăng ? Thắng nhẹ nhàng nói với ông : Nỗi vi phạm của đồng chí , theo luật phải phạt tới vài trăm nghìn đồng hơn nữa phải giữ xe một tháng . Nhưng tôi vận dụng luật , chỉ phạt đồng chí theo lỗi nhẹ . Đồng chí đến phố Xuân quang nộp tiền cho kho bạc . Ông cưòi nụ cười méo mó rồi nói : xin đồng chí , đồng chí đã thông cảm thì thông cảm cho chót . Đồng chí nộp phạt giúp tôi . Tôi không còn thời gian muộn họp quá rồi .Vừa nói ông vừa mở ví lấy tờ bạc trăm nghìn đưa Thắng . Thắng khẽ gật đầu và cât tờ bạc vào túi áo ...                 

         Khoảng 2h chiều thứ 6 . Có lệnh gọi Thắng lên phòng chỉ huy . Có việc gì mới đây – Thắng nghĩ và bước nhanh vào phòng . Thắng vừa ngồi xuống nghế, thủ trưởng đã chỉ người lính ngồi phía bàn đối diện và lạnh lùng hỏi :

- Đồng chí có nhận của đồng chí Quân một trăm nghìn không? 

Thắng nhận ngay ra Quân nên nhẹ nhàng nói :

- Vâng ,đồng chí Quân có đưa tôi số tiền đó nhờ nộp phạt hộ . Cả sáng hôm thứ ba có mỗi trường hợp đồng chí Quân phạm lỗi tôi đã mang tiền nộp cho kho bạc. Nhưng có việc gì vậy ? 

- Đồng chí đưa phiếu thu của kho bạc ra đây

Thắng giở ví ra tìm rồi bỗng anh tái mặt lục tìm túi quần túi áo .Vài phút trĩu nặng trôi qua ... Thủ trươg quay sang nói với Quân giọng nhẹ nhàng.

-Mong đông chí Quân giúp đỡ chúng tôi . Chúng ta phải sang ngay kho bạc để xác minh trắng đen cho rõ ràng

... Giờ đây Thắng vẫn nhớ rất rõ trạng thái nhẹ nhõm đến bải hoải của mình khi nhân viên thu ngân đua cho mọi người xem tờ phiếu thu có tên Quân với số tiên một trăm nghìn đồng . Sự việc rõ ràng như thế Quân đả cảm ơn trước mặt thủ trưởng , sao thủ trưởng vẫn lạnh lùng yêu cầu mình phải làm kiểm điểm . Lập luận của thủ trưởng : Mọi công dân đều được bình đảng trước pháp luật . Bình đẳng trước pháp luật là gì ? là ai có tội đến đâu phải được sử phạt đến đó . Không một ai có quyền làm giảm tội hoặc tăng tội cho người khác theo ý của mình . Hơn nữa mình còn làm sai các qui trình đã được qui định chặt chẽ , dám cầm tiền của ngưòi mắc lỗi để đi nộp phạt hộ ... Ừ thì mình có sai nhưng đâu đến mức ... có bé cứ xé ra to ... anh em vào sinh ra tử với nhau hàng chục trận ... nghĩ tới đây cục uất từ đâu cứ dâng đầy lồng ngực Thắng cầm bút viết    

                                   

                                    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

                                                ĐỘC LẬP -TỰ DO -HẠNH PHÚC

           

            ĐƠN THÔI VIỆC

 

viết xong mấy dòng chữ đó Thắng thẫn thờ buông bút , ngả đầu xuống thành nghế , mắt chăm chắm nhìn vào cõi mông lung ... anh nhớ tới mùa đông ba năm trước ... trong quân phục mùa đông Thắng lặng lẻ đi quang khu vực được phân công bảo vệ vũ trường Đi-A –Na ... Đó là cái mùa đông chết tiệt . Gió rợn người trời lại lất phất mưa . Thủ trưởng như từ trên trời rơi xuống , đột ngột xuất hiẹn trước mắt anh ,ông hỏi nhỏ:         

-Có gì mới không ?

-Không , anh ạ .Mọi việc đều ổn .

-Em mới vào nghề được ít năm đã quen việc chưa ?

- Rồi cũng quen dần thôi anh ạ . Mấy hôm trước em đang thanh thản xách túi đồ theo sau vợ đi mua sắm thì bỗng ... một bà tuổi đã xồn xồn từ đâu lao tới vừa ném cà chua thối vào người em miệmg vừa hét vang chợ :

- Thằng này . Đúng thằng này chiều qua nó phạt và giữ xe của tao

Em lúng túng chưa biết xử lý ra sao thì may quá vợ đã đứng chắn ngang mặt bà ấy , miệng hét to không kém 

- Vi phạm luật thì phải phạt , phải giữ xe . Oan ức gì mà la mà hét .

 Mọi người xúm lại . Uất đến tận cổ em vẫn phải nhũn như con chi chi kéo vội vợ đi ngay . Thế là hết sướng  

Thủ trưởng tủm tỉm cười , ông khẽ kéo Thắng đứng nép vào một gốc cây to để tránh những luồng gió lạnh . Lát sau ông thủ thỉ nói :

- Ngày mới cưới chị, anh cũng gặp một cú ra trò . Đang đèo chị đến giữa ngõ Thông phong thì ... Bất ngờ một tay thanh niên từ đâu xô ra ném gạch vào người anh . Anh tránh được và bẻ ngoặt tay nó ra sau . Khi quay nhìn chị thấy máu đầu chảy lênh láng , anh uất quá  vung tay định cho nó vài quả đấm vào mặt . Nhưng  ơn trời , chẳng hiểu sao anh lại ghìm được mình . Thật hú vía, nhỡ mà cho nó vài quả vào mặt thì ... sự việc rồi sẽ đi đến đâu . Thì ra , nó là con trai ông chủ nhà trong ngõ mà buổi chiều bọn anh vừa lập biên bản về tội chứa chấp đồ ăn cắp  

...Giá mà giờ này chúng mình đuợc bắp ngô nướng mà gặm thì sướng nhỉ .

Hai anh em tủm tỉm cười và chăm chú nhìn xung quanh. Gió càng về khuya càng rờn rợn . Mưa hình như dày hơn . Những hạt mưa nhỏ xíu tê buốt như vụn băng xiên xiên bay qua những khoảng sáng ánh đèn . Cửa hậu vũ trường khẽ mở . Một nhóm thanh niên tuổi choai choai đứa tay cầm chai , đứa tay cầm ly rượu liêu xiêu dìu đứa bạn say khướt đi ra .Hai người đi về phía bọn chúng . Thủ trưởng nhẹ nhàng trách :

- Các cháu sao lại để cho bạn say thế . Trời rét thế này mà say rượu là nguy hiểm lắm . Các cháu đưa bạn về ngay nhà đi

Bất ngờ tay thanh niên say mèm vung dậy giật cốc rượu trong tay đứa bạn hất thẳng vào mặt thủ trưởng , miệng lè nhè .

- Chúng mày là ... bọn ... nào mà ... nói ... như bố tao ấy ...

Thắng xô vào túm ngực tên say rượu dựng thẳng người hắn lên , dằn giọng :

- Mày muốn biết chúng tao là ai à ?

Lũ bạn rối rít xin lỗi .Tên say rượu mắt lờ đờ vẫn lắp bắp :

- Cùng ... lắm ... cớm ... là cớm chứ gì ... chấp ... chấp tất .... đố thằng nào ... dám động ... đến tao ... 

- Này thì đố này . Đố này ! Thắng hét to và vung cánh tay rắn như sắt lên cao . Bỗng anh thấy tay mình tê dại . Thì ra thủ trưởng đã chặt mạnh vao tay anh . Ông dìu tên say rượu , miệng ôn tồn nói với lũ trẻ :

- Các cháu đua bạn về nhà ngay . Không được lang thang nữa , nguy hiểm lắm

 Dìu tên say rượu ngồi chắc chắn trên xe rồi ,ông đi về phía Thắng nói thủng thẳng :

- Chúng mình vừa lập chiến công sao mặt em lại hằm hằm như vậy . Thắng dịu mặt nhìn ông, ngơ ngác . Ông quàng tay qua cổ Thắng cười cười nói :

- Em thực sự không biết mình vừa lập chiến công sao ? Chiến công lớn nhất của chúng mình là giữ bình yên cho cuộc sống của dân . Nếu lúc ấy không ghìm nổi mình mà em đấm cho nó vài quả thì sự việc sẽ ra sao ? Có bình yên không ? nói dại  nó say thế , lại gặp rét đậm , lại ăn đòn ... thì chỉ nghĩ thế anh đã rùng mình . Thôi , vui lên em . Cái nghề của chúng mình nó thế . Giữ cho cuộc sống bình yên thì chiến công đâu cần ầm ĩ . Chiến công thầm lặng mà em . Các nghề khác như : Nghề giáo , nghề y ... đối tượng phục vụ thuần khiết , trong sạch mà họ còn có lúc tức lộn ruột , huống chi chúng mình đối tượng cực kỳ phức tạp : Địch thì tham tàn nham hiểm, lũ tham nhũng thì tinh vi xảo quyệt , bọn xì ke ma tuý hung hãn bất chấp, lũ du côn đồ thì hung dữ ... diệt được chúng khó mười thì cảm hoá , giáo dục chúng khó hai mươi . Cái nghề của mình nó thế . Các cụ thường dạy con cháu : Ăn đi trước - lội nước đi sau . Ý gì ? Anh em mình có hiểu không mà sao trước hiểm nguy chúng mình cứ phải lao lên trước . Các cụ còn dạy : Phải tránh xa nơi hòn tên mũi đạn . Sao anh em chúng mình cứ nhằm chỗ hòn tên mũi đạn mà dấn thân vào , để mỗi lần ta xa nhà là bố mẹ vợ con phải bạc đầu lo lắng . Cái nghê của mình nó thế . Ấy là còn chưa nói tới cặm bẫy và những viên đạn bọc đường giăng khắp mọi nơi . Có nghề họ ăn nói lắp bắp tí chút cũng không sao . Mình giải thích chính sách – pháp luật của Đảng và nhà nước mà lắp bắp là không được . Có nghề họ buột miệng văng tục chửi thề có thể cho qua , nghề mình thử thế xem . Có người vi phạm pháp luật họ có thể giả vờ ngô nghê như không hiểu , không biết , nghề mình vờ thế có được không ?... Đấy cái nghề của mình nó thế .   

Nghĩ đến đây Thắng lắc đầu quả quyết cầm bút viết thêm một loạt chữ vào đơn thôi việc . Rồi cũng quả quyết anh tắt đèn đi ngủ 

Nhưng Thắng không ngủ được... anh bồi hồi nhớ về những gương mặt đồng đội thân yêu ... Nhớ những đêm đông đi tuần tren đường phố , Hà nội thiêm thiếp trong giấc ngủ yên bình  ...

Trưa hôm sau đên giờ hẹn nộp bản kiểm điểm, Thắng lặng lẽ xem lại tờ đơn thôi việc , cẩn thận cho vào cặp rồi bước nhanh đến phòng chỉ huy . Bụng bảo dạ : không nói nhiều . Nếu cần chỉ đặt tờ đơn xuống bàn rồi ra ngay . Thắng quả quyết bước vào , không thấy thủ trưởng đâu chỉ thấy Vinh một “sát thủ lão luyện” trong đội phòng cbống ma tuý ngồi ủ rũ . Thắng hỏi Vinh :

- Anh Lợi đâu ?

Vinh thủng thẳng :

- Ở phòng anh Tiến

- Ơ anh Tiến cả ngày nay ở dưới khu giải toả cơ mà

- Thế mới có phòng trống để ngồi thiền , nuốt ức , nuốt giận và tự kiểm điểm  

Thắng ngạc nhiên thốt lên :

- Tự kiểm điểm ! tội gì ?

 - Tội là thủ trưởng của tôi . Ông không thấy tôi đang ngồi đợi anh ấy   để nộp bản kiểm điểm đây à .

- Vớ vẩn ...sáng nay các ông vừa phá chuyên án k 24 bóc dỡ toàn bộ đường dây vận chuyển buôn bán chất ma tuý lớn nhất của thành phố trong ba năm gần đây , khen còn chưa kịp nói gì đến kiểm điểm 

- Biết làm sao được . Cái nghề của mình nó thế .Nửa tháng qua chúng tôi phải lên Mộc châu nằm vùng . Chiều qua nhận được nguồn tin , tin cậy báo : Vào khoảng 12h đêm qua sẽ có một đôi trai gái mang hàng đến giao ở cây gạo đình làng Phú xuân... Thế là chúng tôi vội lao về . Ông bảo , đêm qua rét như thế mà chúng tôi phải nằm ở nghĩa địa , muỗi đốt nhoai nhoáy . thế có khổ không . Đợi đến gần 12h đúng là có đôi trai gái đi đến cây gạo . Thế là chúng tôi lao tới quật gọn hai đứa lăn ra đất . Mở còng khoá sập lại rồi kéo đến trụ sở . Đến trụ sở mới biết bắt nhầm người . Thanh minh , xin lỗi thế nào gia đình họ vẩn không tin . May mà gần tiếng đồng hồ sau  nhóm ông Phát bắt được đôi trai gái mang hê rô in đến . Lúc ấy gia đình mới chịu đưa con về nhà , nhưng lại ngoắc thêm việc : Cô gái bị mất sợi dây chuyền 5 chỉ vàng . Thế là thủ trưởng và mấy anh em chúng tôi phải căng mắt dò tìm đến sáng bạch cũng không thấy   

- Thế là ông vừa phải kiểm điểm vừa phải bỏ tiền túi ra đền à

- Biết làm sao được , cái nghề minh nó thế. Công là công - tội là tội rõ rành mạch không thể lấy công xuê xoa cho tội được . Muốn hành nghề cho tốt phải rèn mình liên tục , rèn suốt đời để chiến thắng chính mình . Giờ thì tôi mới hiểu vì sao thủ trưởng lại treo chữ này - Vừa nói Vinh vừa chỉ chữ NHẪN .   

Nghe Vinh nói mà lòng Thắng thấy hoang mang. Những vấn đề anh tưởng đã nghĩ chín lắm rồi , nghĩ đến nát óc ra rồi hoá ra vần còn gây ngô non nớt . May mà mình chưa thòi ra lá đơn thôi việc 

- À mà ,ông có việc muốn gặp thủ trưởng thì ngồi đây với tôi , chỉ mươi phút nữa xả street xong là thủ trưởng xuống thôi – Vinh nói

- Không có việc gì quan trọng đâu . Tôi về đội đây . Chỉ nhờ ông nói với thủ truởng , tôi xuống để nộp bản kiểm điểm nhưng không gặp. Sáng mai tôi xin nộp 

Nói xong Thắng vội vã bước ra . Vinh lắc đầu ,tủm tỉm cười nói với theo Thắng : cái nghề của mình nó thế ,ông ạ !

 

 

                                                                    LÊ MAI

 

 

 

Tác Giả Lê Mai (Trái)

 

 

Ähnliches Foto

 

TÌM CHA TRONG GƯƠNG

 

 

Trong căn nhà nhỏ nằm chơ vơ giữa lưng đồi heo hút vẳng lên tiếng nói của Vân thều thào, yếu ớt:

- Cả đời tao chỉ có một mong ước, mong ước cháy lòng… Trước khi nhắm mắt biết mình cũng có người hương khói để chấm dứt chuỗi ngày cô đơn, lạnh buốt  trên cõi đời này. Nhưng giờ thì tao đã biết, mình bất lực rồi… Chẳng lẽ chết rồi, tao vẫn phải cô đơn, lạnh lẽo như thế này ư?...

- Mày đã tìm bé Hồng ở những đâu? – Yến rưng rưng hỏi bạn.

- Tìm khắp Việt Nam. Cứ nơi nào có xã Tiến Bộ là tìm đến. Nhưng địa chỉ nó ghi sai… Có mà mò kim dưới đáy biển.

- Mày đã hỏi ông Dũng chưa?

- Tin gì cái ngữ ấy, hỏi cho phí công.

- Thôi được, để tao đi hỏi cho. Trước là thủ trưởng nó khác. Giờ ông ấy về hưu rồi, là dân rồi, hoàn lương rồi nó khác chứ.

- Thôi thì… tùy mày. 

Trước mặt Yến là một tòa biệt thự xinh xắn, đẹp đẽ. Tường rào, cổng vào và khu vườn ngập tràn cây cảnh chứng tỏ chủ nhân ngôi nhà là con người lịch lãm, có học vấn cao. Yến rụt rè bấm chuông. Phút tĩnh lặng trôi qua. Người đàn ông béo trắng trong bộ đồ pyjama nhanh nhẹn ra mở cổng. Bỗng ông bất ngờ reo:

- Yến! Yến! Cơn gió nào cuốn em đến đây thế này? Vào đi! Vào nhà đi! Quý hóa quá! Quý hóa quá!

Thận trọng bước theo người đàn ông vào nhà, Yến hỏi:

- Nhà đi đâu hết, còn mỗi anh thôi à!

- Có ai đâu mà bảo đi đâu hết. Bà xã mình mất đã 6 năm. Thằng lớn lấy vợ và lập nghiệp ở Ôxtrâylia. Thằng nhỏ lấy vợ và mưu sinh ở Mỹ. Ở đây có mỗi mình… Anh em mình xa nhau dễ gần 30 năm rồi Yến nhỉ. Nghe nói, em bây giờ là giám đốc công ty gì lớn lắm phải không? Tiến bộ quá! Tiến bộ quá!

 

Cử chỉ, lời nói của người đàn ông trả lại cho Yến sự tự tin, dễ gần hàng ngày. Nhấp  ngụm nước chè thơm phức nóng giẫy xong, Yến nói:

- Tướng quân nói đúng, cơn gió mùa đông Bắc lạnh buốt cuốn em tới đây. Có việc quan trọng phải nhờ đến sự trợ giúp của anh, nghe xong anh sẽ rét, rét buốt, không hiểu anh có giúp cho không?

- Về hưu lâu rồi, tướng tá gì nữa đâu mà quan trọng với không quan trọng. Việc quân thì thôi. Việc dân có gì xin cứ nói. Giúp được đến đâu tôi sẽ cố hết mình.

- Chuyện cái Vân anh ạ!

- Chuyện Vân à. Tôi cũng linh cảm thế. Vân giờ sống thế nào?

- Nó khổ lắm, sau khi ra quân không hiểu sao chẳng chịu lấy chồng, dù có rất nhiều người đứng đắn, tử tế đặt vấn đề. Khi khỏe ở với vợ chồng cậu em, giúp đỡ cho vợ chồng nó. Khi biết mình mắc bệnh hiểm nghèo, sợ làm phiền lụy đến người khác, nó đùng đùng bỏ ra ở riêng. Một túp lều đơn côi giữa lưng đồi lộng gió. Cô đơn, heo hút… Giờ thì kiệt sức rồi. Tuần qua chúng em phải luân phiên nhau đến chăm nom nó… Sự sống chỉ còn tính theo ngày. Nó chỉ có mong ước duy nhất: trước khi mất được nhìn thấy mặt con, để biết mình cũng được như mọi người có kẻ chăm lo hương khói cho hồn khỏi bơ vơ, lạnh lẽo. Sống cô đơn, chết đơn độc thì khổ lắm anh nhỉ. Anh cho thằng Hồng đến với nó anh nhé.

- Sao các bạn biết tôi biết chỗ ở của cháu.

- Nói anh tha lỗi, chúng em không chỉ biết có vậy. Chúng em còn biết rõ: Hồng chính là con anh. Nhưng… lấy cớ để bảo vệ sự trong sạch của Đảng bộ, để giữ gìn sự nghiệp cho Vân, anh đã khôn khéo vận động mọi người động viên Vân, để nó phải cho con đi. Như vậy anh thực sự an toàn, hơn nữa trong con mắt của nhiều người anh còn là một thủ trưởng đầy nhân ái, thấu tình đạt lý. Tội của anh hồi làm thủ trưởng lớn lắm. Nhưng Vân, nó vẫn có sự thông cảm với anh. Nó nghĩ: Anh buộc phải làm vậy chỉ vì sợ, một nỗi sợ rất người. Một người có địa vị như anh, có tính cách như anh nếu không biết chỗ ở của cháu Hồng sao còn là anh nữa. Nó giục em đi tìm anh vì nghĩ: giờ về hưu, là dân chắc anh sẽ khác. Liệu có khác không anh?

- Khác, khác nhiều lắm. Trước đây mình cứ nghĩ: Địa vị, tiền tài, danh vọng là mục đích cao cả mà mọi kiếp người phải vươn tới. Nào ngờ… nó lại là trò đùa hiểm ác của tạo hóa. Hai thằng con được che chở, được trợ giúp của địa vị và tiền tài, giờ đây lại đang hết mình phấn đấu vì chúng, bỏ quên người cha đang cô đơn, mòn mỏi ở quê nhà. Thằng Hồng, từ bé tới giờ không được sự chở che, giúp đỡ của địa vị, tiền tài thì hoang dại và thiệt thòi quá. Giờ bạn biết nó làm gì không? Nó là thằng chăn vịt. Thật đau lòng. Đúng là: không tiền, không địa vị thì khốn khổ. Lắm tiền, địa vị cao thì khốn nạn. Trở về cuộc sống thường dân, trở về với thiên nhiên tôi mới ngộ ra điều: cái gì mình cố giữ thì đều mất, cái gì mình cho đi thì lại còn. Giờ đây tôi chỉ còn thằng Hồng nhưng… 

*

Hai chiếc Dream phóng như bay như lướt trên đường. Vẫn con đường quen thuộc ấy nhưng sao hôm nay ông Dũng thấy lòng hồi hộp thế. Mọi lần ông chỉ dám cho xe chạy từ từ qua căn nhà cấp bốn Hồng ở là liếc vào để ngẩn ngơ. Lần này thì khác… ông sẽ bước vào nhà, sẽ trực tiếp chuyện trò với nó… Chỉ nghĩ thế thôi, lòng ông đã rối bời buồn vui lẫn lộn. Đến gần cổng làng, ông Dũng cho xe chạy thật chậm rồi chỉ tay ra một đầm nước nằm chếch sau làng, nói:

- Thỉnh thoảng thằng Hồng vẫn lùa đàn vịt của nó ra đó.

- Nó có biết anh không?

- Biết sao được. Anh vờ là người đi câu và thường ngồi dưới gốc vối kia ngắm nó.

Nói xong ông rồ xe chạy thẳng vào làng. Qua vài lần ngoặt trái ngoặt phải, ông Dũng dừng xe trước ngôi nhà ngói đỏ 3 gian, tường rào râm bụt và gọi:

- Có ai ở nhà không? – Giọng ông run run.

Có tiếng người đàn bà trong nhà vóng ra:

- Ai đới. Cổng mở đới. Cứ vào.

Dứt lời, người đàn bà trong nhà te te chạy ra mở cổng và hỏi:

- Ông bà hỏi ai?

Nhìn người đàn bà gầy guộc, lếch thếch, mắt mũi lèm nhèm, mặt mày dăn dúm, ông Dũng rơm rớm nước mắt với ý nghĩ: chị ấy cũng trạc tuổi mình mà sao chóng già, chóng cũ thế! Ông nói:

- Chị không nhận ra tôi sao?

Bà lão ngước cặp mắt lèm nhèm ngây ngây nhìn ông rồi bỗng reo lên:

- Thủ trưởng! Có phải thủ trưởng đới không?

Ông Dũng nhẹ cười, gật gật đầu xác nhận. Bà lão xởi lởi hẳn lên, nói như quát:

- Thủ trưởng và bà vào nhà xơi nước đi. Hồng ơi, có thủ trưởng và bà đây ở đơn vị mẹ mày lên chơi đây này.

Có tiếng chân huỳnh huỵch từ phía sau nhà… Tiếng bà lão:

- Dễ chừng cũng đến mấy chục năm rồi thủ trưởng nhẩy! À mà, thằng Hồng năm nay cũng gần ba mươi rồi. Đúng là bóng câu qua cửa sổ, thoắt cái đã gần ba mươi năm…

Hồng phủi qua áo quần rồi bước vào nhà. Yến giật mình nhìn Hồng. Đúng là, sao y bản chính, giống bố như lột. Rồi Yến chủ động nói:

- Thưa chị, mẹ đẻ cháu Hồng hiện nay lâm bệnh rất nặng, sự sống chỉ còn thoi thóp tính theo giờ. Một thân một mình thui thủi lúc lâm chung thì lạnh lẽo, thê thảm lắm. Chúng em mạnh dạn đến đây mong chị thông cảm cho cháu Hồng về thăm mẹ nó một lần, trước lúc mẹ nó đi xa…

Hồng cộc lốc cắt ngang lời Yến:

- Mẹ à! Cháu lại có một người mẹ nào nữa đây. Bác và cô nói xem, đây có phải là bố mẹ cháu không? Hồng vừa hỏi Yến vừa chỉ vào bà lão và bức ảnh ông lão đặt trên bàn thờ, rồi nói tiếp, giọng lạnh tanh:

- Đẻ con ra rồi, quẳng đi, có xứng là cha mẹ không? Đến con vật cũng không nỡ làm vậy, huống chi người.

- Hồng, không được hỗn – Bà lão cắt ngang lời Hồng rồi thủng thẳng nói tiếp - Có thương mày thì thủ trưởng với bà đây mới lần mò tới đây, không thì ai rỗi hơi. Công sinh thành to lắm con ạ. Không kém gì công dưỡng dục đâu. Thôi, vào buồng mà chuẩn bị các thứ để đi đi. Nghĩa tử là nghĩa tận.

Yến nói:

- Cháu Hồng nó không biết nên nói vậy. Nói chị tha lỗi, sau khi ra quân, mẹ cháu Hồng đã bỏ rất nhiều công sức và tiền của để đi tìm cháu nhưng… Địa chỉ chị cho sai cả thì làm sao mà tìm được.

- Sao mẹ lại làm thế? Hồng thảng thốt quay sang hỏi mẹ.

Bà lão vẫn thủng thẳng:

- Khổ! Tao biết đâu đấy! Thấy thủ trưởng đây dặn thế thì nói thế. Biết đầu cua tai nheo ra sao. Phải ông dặn tôi nói thế không, thủ trưởng nhẩy?

Hồng quay ngoắt về phía ông Dũng nói gay gắt:

- Sao ông lại làm vậy? Sao ông lại đang tâm lừa dối mẹ tôi? Đã dối trá đến thế còn mò đến đây giả nhân, giả nghĩa thật không thể hiểu nổi.

Thấy tình thế bất lợi Yến vội nói:

- Hồng! Bĩnh tĩnh lại cháu! Bình tĩnh nghe cô nói đây! Sự việc gì cũng có nguyên nhân của nó. Khi biết rõ nguyên nhân, ta mới có thể phán quyết đúng sai. Thời của các cô và mẹ cháu có những việc mới nghe qua tưởng như ngu ngơ, thậm chí như tàn nhẫn nhưng bình tâm, nghĩ kỹ, hiểu rõ nguyên nhân, có thể ta sẽ cảm thông, cảm thông đến đồng cảm. Dần dà rồi cô sẽ kể, kể hết cho cháu nghe về bố mẹ cháu. Cô tin, rồi cháu sẽ hiểu, sẽ thông cảm với họ. À mà, đến đó không biết chừng, cháu có thể gặp được cả bố đấy.

- Cháu chẳng hám! Một người chồng bỏ vợ, một người bố bỏ con có gì mà phải mong đợi… 

*       

Hai giờ chiều, hai chiếc xe máy từ từ leo lên sườn đồi bạt ngàn bạch đàn phía sau làng. Gió. Vi vút và hoang vắng. Hồng chạnh lòng nghĩ: Sao mẹ không ở trong làng, trong xóm cho vui lại lánh mình lên đây như ở ẩn? Gió. Vẫn vi vút gió. Trước mặt là một túp lều sơ sài, nhỏ bé. Xe vẫn đang từ từ đi, bỗng Yến kêu lên thảng thốt:

- Không kịp rồi!

Ba người dựng xe trước túp lều. Hồng đưa mắt nhìn quanh… Đơn côi… Heo hút… Lành lạnh. Một cây cau nhỏ xác xơ xòe vài tán lá úa vàng chơ vơ cạnh vại nước nhỏ. Nửa chậu sành nham nhở… Một chậu nhựa cũ… Và vài búi cỏ phạc phờ. Tiếng Yến:

- Hồng, cháu vào thắp cho mẹ nén nhang rồi ta ra nghĩa địa làng. Tấm ảnh trên ban thờ mẹ chụp hồi nhập ngũ đấy.

Hồng khom người bước vào ngôi nhà đầy mùi ẩm mốc. Anh run run cắm mấy nén nhang vì đăm đắm ngắm nhìn ảnh mẹ. Mẹ thật đẹp, những nét dịu dàng nhân hậu ngập tràn trên khuôn mặt trái xoan mịn màng, thanh thoát. Hình như từ hai khóe mắt đang ứa ra những giọt nước mắt long lanh, trong vắt. Đôi mắt mẹ quá buồn, có cái gì như mang mang vô định.

Hồng nhìn quanh nhà: chiếc chõng tre ọp ẹp, tấm chăn chiên cũ rích, chếc màn xô ngả màu, các hòm gỗ sơn đỏ và vài cái xoong nhôm nho nhỏ…

Gia sản của một đời người còn lại là thế này đây – Hồng nghĩ và rưng rưng nước mắt. Lại tiếng Yến:

- Hồng ơi, vái mẹ đi rồi ra nghĩa trang làng.

*

Hồng lểu thểu đi sau Yến đến nghĩa địa làng. Chiếu mới chớm vàng nên nắng còn gay gắt. Cánh đồng lúa mênh mông xanh rờn tiếng gió. Nghĩa địa làng mẹ đẹp quá. Nhiều ngôi mộ được xây rất kiểu cách với những vật liệu đắt tiền, với những sắc màu lòe loẹt. Tất cả cố khoe bầy sự làm ăn khấm khá, lòng hiếu thảo của con cháu người làng. Đứng trước mộ mẹ, lòng Hồng càng cay đắng, xót xa. Mẹ ơi, sao mẹ khổ thế: sống nghèo khó cô đơn nhất làng, chết cũng cô đơn, xơ xác nhất làng. Tiếng Yến nói trong nước mắt:

- Vân ơi! Sao mày đi vội thế! Không cố nán lại một chút để tận mắt thấy những người thân yêu nhất của mày đang quây quần quanh mày đây. Từ giờ mày không còn phải buồn sống không người thân, chết không người hương khói. Ở cõi âm mày không còn phải cô đơn, lang thang vơ vẩn chờ ngày xá tội vong nhân. Mày sống khôn chết thiêng, nếu biết, nếu vui thì hãy hiển linh báo cho tao và những người thân yêu nhất của mày biết, Vân nhé.

 

Yến vừa ngừng lời, bát nhang trên ngôi mộ bùng cháy. Ngọn lửa lóa vàng phần phật như reo vui, như vẫy gọi. Ông Dũng khẽ rùng mình. Tiếng Yến lại như rơi từ không trung:

- Anh Dũng và Hồng thấy chưa, Vân nó biết đấy, nó đang rất vui. Có lẽ đây là ngày vui nhất trong đời của mẹ cháu đấy Hồng ạ. Mẹ cháu vốn rụt rè, cả thẹn mà cháu xem, lửa bùng phần phật, lửa cháy hừng hực. Mẹ cháu hồi trẻ xinh đẹp, dịu dàng, chăm chỉ nhất làng. Cháu có quyền tự hào về mẹ. Bố cháu là một vị chỉ huy có tài, đẹp trai, học cao biết rộng. Họ ở cùng đơn vị với nhau rồi yêu nhau, có thai.

- Sao họ không cưới nhau? – Hồng hỏi.

- Cưới sao được. Lúc đó bố cháu đã có vợ ở quê. Người vợ của tệ tảo hôn ấy mà.

- Bố cháu là chỉ huy đơn vị, to thế, ai dám buộc họ phải cho con được.

- Chẳng ai bắt buộc ngoài tính hám danh, hám lợi của bố cháu…

- Mẹ cháu có biết việc làm của ông không?

- Lúc đầu thì không nhưng đến khi mẹ cháu dốc lòng đi tìm cháu, càng tìm càng biệt vô âm tín thì… biết.

- Chẳng lẽ bố cháu lại là người đê tiện đến thế ư?

- Ở thời mẹ cháu và các cô, ngoại tình là một tội nặng, chỉ xếp sau tội phản quốc. Vì nó người ta có thể mất sự nghiệp, thân bại danh liệt… nên chưa ai nỡ xếp bố cháu vào hàng đê tiện. Họ chỉ chê ông là kẻ tham lam ích kỷ. Mẹ cháu ốm sắp mất, đồng đội cũ cử cô đi tìm cháu là để thỏa lòng mong ước của mẹ… Không ai nghĩ tới việc tìm bố cháu đâu. Nhưng… vừa qua cô gặp bố cháu lại thấy thương . Ông ấy hiện nay có lẽ sống còn cô đơn hơn mẹ cháu. Địa vị cũ, quan niệm cũ đã đẩy cuộc sống của ông lâm vào tình trạng sống không có người thân, không có bạn bè, làng xóm. Nói dại, nếu ông có mệnh hệ gì thì cũng không ai biết, nói gì đến chuyện hương khói sau này. Nhưng cháu đừng quá buồn, vì hình như từ ngày không còn bị ràng buộc bởi chức tước, tiền tài, bố cháu sống tốt lên rất nhiều.

- Cô đoán, liệu bố cháu có đến đưa tang mẹ cháu không?

- Đến! Đến chứ!

- Giá cô cháu mình đến kịp thì…

- Ông ấy ở ngay đây thôi. Giờ cô đưa cháu đến gặp. Bố con có nhận nhau hay không thì tùy cháu.

*       

Chiều đã vàng, ba người rảo bước theo Yến về làng. Làng mẹ đẹp quá! Cổng làng cũng đẹp! Đình làng cũng đẹp! Ấn tượng của một làng quê trù phú hằn lên tâm thức, khơi dậy trong Hồng nỗi niềm bùi ngùi chua xót. Đầu óc Hồng ngổn ngang ý nghĩ: Ông ấy là người thế nào? Chắc cũng béo tốt như bác Dũng vì họ cũng là thủ trưởng cơ mà. Nhưng liệu ông có hiền hiền ít nói như bác Dũng không hay lại thao thao bất tuyệt? Gặp mình ông sẽ vui mừng vồ vập hay thờ ơ lãnh đạm?... Kiểu gì mình cũng chỉ nên dửng dưng, thờ ơ để ông hiểu rõ thái độ của mình, không chỉ là của mình mà còn cả thái độ của mẹ… Ba người dừng chân trước ngôi nhà hai tầng nhỏ nhắn, xinh xắn có cổng sắt, tường rào. Hồng hồi hộp hỏi:

- Nhà ai mà đẹp thế cô?

Yến vui vẻ nói:

- Nhà cô đấy. Chúng mình vào đi.

Nhà vắng lặng, không một bóng người. Nhấp chưa xong chén nước chè đặc sánh, nóng rẫy, Hồng bồn chồn nói:

- Vào thăm cô thế này là được rồi. Giờ trời đã tối, cô cho phép cháu được về nhà, còn việc gặp ông ấy để dịp khác, cô nhỉ.

Yến nháy mắt cười với ông Dũng rồi nhẹ nhàng nói:

- Thế cũng được. Nhưng trước khi về, em muốn khoe với anh và cháu một báu vật…

- Báu vật gì mà gớm thế! – Ông Dũng cố đùa trong trạng thái băn khoăn.

- Khắc đi thì khắc biết – Yến tủng tẳng.

Ông Dũng và Hồng miễn cưỡng đi theo Yến. Họ dừng chân trước một tấm gương lớn trong phòng ngủ. Hồng và ông Dũng đưa mắt nhìn nhau, ngơ ngác. Yến nói:

- Đây là một chiếc gương Nhật. Anh Dũng giúp em nói cho Hồng rõ đặc tính quý hiếm của chiếc gương. Còn Hồng, cháu cứ nhìn kỹ vào gương, cháu sẽ phát hiện ra bất ngờ lớn nhất trong đời cháu.

Dứt lời, Yến đi nhanh ra khỏi phòng và ý tứ khép chặt cửa. Nhưng chị không đi tiếp mà dừng lại, tập trung sức nghe dõi theo những biến động trong phòng. Những giây phút tĩnh lặng hồi hộp, chậm chạp trôi… Bỗng trong phòng òa lên những tiếng nấc. Những tiếng nấc của đàn ông nghe đau đớn, xót xa đến rợn người. Yến lập cập bước vội ra sân, vừa bước miệng vừa lập bập: “Nức nở là tốt rồi… nức nở là tốt rồi…!” Đêm ở làng tĩnh lặng đến hoang sơ… Những làn gió dịu dàng mơ hồ thổi… Những vòm cây khẽ rủ rỉ, xạc xào…

                                                                                               
                                                                                          Lê Mai

 

Nhà Văn Lê Mai

 

Ähnliches Foto 

 

NGƯỜI TÔN VINH THƠ CA VIỆT NAM

 

-  Ông là ai? Là nhà thơ đã xuất bản 12 tập thơ, trong đó không phải không có những tập khá, không phải không có những bài thơ hay.

-  Ông là ai? Là nhà sưu tầm, biên soạn, tuyển chọn gần 20 tuyển tập thơ (với khoảng trên 12.000 trang in), trong đó không phải không có những cuốn sách có giá trị.

-  Ông là ai? Ông nói: Tôi là người yêu thơ, say thơ và trân trọng thơ, vậy thôi. Ông Hữu Thỉnh - Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam nói: Gia Dũng là người tôn vinh thơ Việt Nam.

Ông là Gia Dũng (họ Đỗ) sinh năm 1940, quê Thái Bình. Thủa nhỏ ông đã có những bài thơ khiến bạn học nể phục. Những năm đầu thập kỷ 60 của thế kỷ trước, ông đã có thơ đăng trên các báo Văn nghệ, Nhân dân, Tiền phong....

Ngày 19-5-1965, Gia Dũng, anh cán bộ trẻ phòng văn nghệ Ty văn hoá tỉnh Tuyên Quang, với cặp kính viễn 3,5 điốp xung phong đi bộ đội và được điều về đại đội vận tải (C25) sư đoàn 312B. Vào lúc rỗi rãi hiếm hoi, ông lấy sổ thơ ra đọc - những bài thơ chép tay với nét chữ đẹp.  Tình cờ, trợ lý quân lực sư đoàn Lê Thăng biết. Thế là, một tuần sau ông trở thành nhân viên văn thư của Ban Quân lực sư đoàn, để rồi năm 1966 về Nam Định nhận quân, điểm danh có Nguyễn Đức Mậu, lên Vĩnh Phúc có Hà Đình Cẩn, sang Hà Tây có Nguyễn Phúc Ấm....những người bạn văn thơ thân thiết của ông sau này. Tháng 9 – 1969, Gia Dũng cùng Nguyễn Đức Mậu theo Trung tá trung đoàn trưởng Nguyễn Chuông (sau là thiếu tướng Phó tư lệnh quân khu II) đi chuẩn bị chiến trường. Chuyến vượt Trường Sơn gian nan, hiểm nguy này đã cho ông nhiều cảm xúc hào hùng và lãng mạn, giúp ông viết nên bài thơ nổi tiếng “Bài ca Trường Sơn”. Để rồi, vào một ngày đang lúi húi lấy củi trên đỉnh A Sầu, A Lưới, ông bỗng nghe “đài hát”.... “Trường Sơn ơi! Trên đường ta qua chưa một dấu chân người/Có chú nai vàng nghiêng đôi tai ngơ ngác/Dừng lưng đèo mà nghe suối hát/Ngắt một đoá hoa rừng gài lên mũ ta đi....” . Ông lắng nghe và vui sướng, tự hào đến run người, nhưng....ở cái chốn chiến trường A Sầu, A Lưới mù trời khói lửa đạn bom này, còn đâu một đoá hoa rừng cho ông tự thưởng mình. Năm 1972 ông bị thương rồi nhận quyết định về công tác tại tạp chí văn nghệ quân đội cùng các nhà thơ: Thu Bồn, Nguyển Đức Mậu, Duy Khán,VươngTrọng ... Những tưởng từ đây ông sẽ yên tâm sống để dựng xây sự nghiệp văn chưong. Nào ngờ, cuối năm 1978 tình hình biên giới phía bắc trở nên căng thẳng. Thế là ông xin lên biên giới để xây dựng hội văn học nghệ thuật tỉnh Hà Tuyên. Ở đây, với 7 năm trên cương vị phó chủ tịch kiêm tổng thư ký hội văn học nghệ thuật một tỉnh một tỉnh miền núi tuy vất vả nhưng đã mang đến cho ông những lợi thế cho công việc sau này.

Năm 1990 khi Hà tuyên tách tỉnh, ông lặng lẽ rời núi rừng xuống Hà nội thuê nhà, mướn “đại bản doanh” để mở mặt trận mới: làm sách thơ. Bạn bè tâm sự: làm sách văn xuôi khả dĩ còn có thể sống được chứ làm sách thơ thì... ai mua. Nhưng ... nếu chỉ vì lẽ mưu sinh thì việc gì ông phải nhọc lòng xa nhà rời núi. Trong ông còn có sự thôi thúc cao cả hơn nhiều.

  Vì say thơ, trân trọng thơ cho nên khi nhận thấy cảm xúc trong lòng không còn được dào dạt như xưa sức sáng tạo có phần suy giảm ông lập tức dừng bút. Chẳng lẽ ông phải xa thơ ư? Ông đã có cách .Ông sẽ làm các tuyển thơ thật đẹp thật hay để tôn vinh, lưu giữ những giá trị nghệ thuật vĩnh hằng.

  Khi làm sách thơ ông tự đặt cho mình nguyên tắc: chỉ tuyển chọn thơ hay, không lệ thuộc vào tác giả. Phải thế chăng mà trong tuyển “Thơ Việt nam 1945-2000” không có bài của trên 20 nhà thơ là hội viên hội nhà văn Việt nam, trong khi đó ông lại chọn tuyển thơ của trên 200 tác giả tên tuổi còn lạ lẫm.

  Lại nữa, tuyển chọn thơ không lệ thuộc vào tài trợ. Ông đã từng tế nhị từ chối trên chục ngàn đô la tài trợ của một giáo sư người nước ngoài “gốc việt”... Ông đã từng lẳng lặng bỏ qua lời đề nghị của một ông giám đốc: sẽ tài trợ hàng chục triệu đồng, sẽ mua hàng trăm cuốn sách nếu ông tuyển chọn cho ông ta... một bài thơ .Ông thường nghĩ: thơ hay thời nào cũng có nhưng thời nào cũng hiếm. Muốn tìm được thơ hay thì phải đọc, đọc hàng vạn bài thơ. Phải lắng nghe, nghe hàng nghìn người để phát hiện. Nên ông đi khắp mọi miền quê đất nước để “nhặt thơ”, “gom bạn”. Nghe Mường Lò có ông Lò Văn Tâm (dân tộc Thái) làm thơ hay là ông đến Mường Lò. Đọc bài thơ “Nhớ Hồ gươm” của Tống Ngọc Hân thấy hay là ông lên Sapa. Chọn bài thơ “Giá gạo Tràng An” của nữ sĩ Mộng Tuyết là ông tới Hà Tiên. Hâm mộ tài năng tướng Nguyễn Sơn là ông vô Sài gòn nhờ cậy người tìm đến nhà riêng của con gái tướng Nguyễn Sơn để xin thơ.

  Nhờ Gia Dũng tôi mới được xúc động cùng những câu thơ hay của những tác giả không quen biết...Con về thăm mẹ đêm mưa / Mới hay nhà dột gió lùa bốn bên / Bao nhiêu hạt thẳng hạt xiên / Đã rơi vào mẹ những đêm trắng trời /Con đi đánh giặc suốt đời /Mà không che nổi một nơi mẹ nằm (Đêm mưa - Tô Hoàn). Hay như ... Mình về con dốc thì dài / Mây chen chân ngựa, gió cài vành khăn / Lời yêu trong mắt long lanh / Mùa xuân căng mọng nửa vành áo thêu (Chợ phiên - Nguyễn Thọ)

Gần 20 năm “ lưu lạc giang hồ” với lòng ngưỡng mộ tôn vinh thơ Việt, Gia Dũng đã sưu tầm biên soạn được các tuyển thơ như:

  Năm 1999, ông xuất bản cuốn Chúng tôi đánh giặc và làm thơ gồm 280 bài thơ của 120 tác giả là người lính. Đây là cuốn sách ông tâm đắc vì ông trả được món nợ lòng đối với những người đồng đội. Khi nhận viết lời giới thiệu cho tuyển thơ này, đại tướng Võ Nguyên Giáp nói đại ý: nếu cán bộ và chiến sĩ trong quân đội ta biết tôi từ chối viết lời giới thiệu cho cuốn sách này thì anh em sẽ nghĩ gì về tôi?

  Cuốn sách ra đời ngay lập tức được công chúng đón nhận. Giữa tháng 12 năm1999, trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh tổ chức buổi giới thiệu cuốn sách, trong số đông công chúng thăm dự có cả gia đình con gái tướng Nguyễn Sơn, con trai nhà thơ Huỳnh Văn Nghệ, chị gái nhà thơ Lê Anh Xuân...

  Năm 2000, ông xuất bản cuốn Thơ các dân tộc thiểu số Việt nam thế kỷ XX gồm trên 600 bài của gần 500 tác giả. Lần đầu tiên các dân tộc thiểu số Việt nam có một tuyển thơ thế kỷ.

  Năm 2001, xuất bản tuyển Thơ Việt nam1945 - 2000  đánh dấu mốc lịch sử quan trọng của thơ Việt nam. Tập tuyển được tạp chí Thế giới mới đưa vào kỷ lục sách Việt nam.

  Năm 2004, xuất bản cuốn Ngàn năm thương nhớ gồm 938 bài thơ của 886 tác giả. Cuốn sách bìa cứng , giấy đẹp có hoa văn nổi, dày trên 2000 trang, nặng tới 3,6kg. Đây là tuyển thơ lớn nhất về Thăng long – Hà nội từ trước đến nay. Tạp chí Thế giới mới một lần nữa ghi nhận: “Người tự phá kỷ lục về tuyển thơ đồ sộ nhất lại chính là Gia Dũng”. Cuốn sách Ngàn năm thương nhớ vượt kỷ lục về độ dày, về số lượng tác giả, về thời gian (10 thế kỷ) và cả về không gian (ngoài các tác giả trong nước còn có 86 tác giả thuộc 42 quốc gia trên khắp các châu lục).

  Tháng 12 -2004, xuất bản cuốn Hồ Chí Minh - Hợp tuyển thơ dày 1640 trang. Đây là cuốn sách lớn nhất trong lĩnh vực thơ ca về Chủ Tịch Hồ Chí Minh.

  Tháng 8 - 2005, xuất bản cuốn  Nước non một dải dày 1962 trang với 999 bài thơ của 999 tác giả. Cuốn sách giống như một tấm bản đồ thơ ca, một “Từ điển thơ” về đất nước và con người Việt nam, quy tụ đủ tác giả, tác phẩm của 61 tỉnh thành (có cả những tác phẩm của người Việt sống xa tổ quốc).

  Đầu thu năm 2007, xuất bản cuốn Nguyễn Trãi với Côn Sơn dày 1680 trang (trong đó có 1400 trang Hán nôm) với 219 tác giả.

Tháng 6 -2008 xuất bản cuốn Tràng An một thuở. Thu 2008 xuất bản cuốn Văn chương Thái bình 10 thế kỷ dày 1800 trang (với 1200 trang Hán nôm). Đặc biệt, theo dự tính ngày 1 – 1-2010 ông sẽ cho ra mắt bạn đọc bộ tuyển thơ Việt thi thiên tải (ngàn năm thơ Việt) gồm 2 tập dày 2980 trang (có 1380 trang Hán nôm) với 1280 tác giả. Đây sẽ là bộ tuyển thơ tầm cỡ, chúng ta sẽ đón chờ một kỷ lục nào đây?

Vào những ngày này chúng ta vẫn thấy ông tiếp tục đọc, đi, gặp gỡ để gom nhặt thơ hay. Trên bàn làm việc của ông, trong nhà in, các tập thơ, tuyển thơ do ông biên soạn luôn sẵn sàng ra mắt bạn đọc. Xin cảm ơn và chúc mừng nhà thơ, nhà biên soạn Gia Dũng .

 

Thơ dự thi về Hà Nội – Lê Mai

 

Ähnliches Foto

 

NỖI NHỚ NGÀN NĂM

 

“Chẳng còn đâu nữa bình yên

Ngàn năm rạo rực nỗi niềm Thăng long...”

Lắng lòng vào xứ sở

Năm cửa ô bồi hồi hé mở

Dập dồn nghe hơi thở hồng hoang

Chim Lạc bay xao xác lá đại ngàn

Lý Thái Tổ rời đô về lập nghiệp

Chí anh hùnh gặp địa linh nhân kiệt

Phút giao hoà đất miệt hoá Thăng long

Sông Cái Triệu năm rứt ruột chuyển dòng

Cho Lục Thuỷ để Thăng Long huy hoàng, diễm lệ

Cho Hồ Tây để gái trai xốn xao quá thể

Di chỉ Hoàng Thành còn kể Tháp Bút ghi:

Ai bảo Thăng long phi chiến địa ?

Mà Loa Thành máu chảy đỏ dòng sông

Lông ngỗng bay ngơ ngác nghĩa vợ chồng

Nỗi  ân hận ngàn năm trong giếng Ngọc

Đất văn hiến lớn lên trong khó nhọc

Ngàn năm trường tiếng khóc đỡ lời ca

Nỗi nhớ ngàn năm nở nhuỵ khai hoa

Vẫnn hào sảng ngân vang những lời ca trên dòng sông Như Nguyệt

Vẫn Sát thát gầm rung rực loá vầng trăng khuyết

Lửa Bồ Đề biêng biếc ánh gươm thiêng

Đào Nhật Tân hớn hở sắc hồng duyên

Nao nức bước chân thần tốc

Kháng chiến chín năm, vượt dèo đạp dốc

Trung đoàn Thủ đô không lỗi hẹn ngày về

Người Thăng Long son sắt lời thề

Đánh xong giặc Mỹ mới về quê hương...

Ngàn năm nỗi nhớ yêu thương

Nụ cười thiếu nữ vương sương Tây hồ

Ngàn năm thu biếc trời mơ

Ngàn năm nỗi nhớ day bờ diết da...  

 

 LÊ MAI

Số điện thoại liên hệ : 04.2215.3125

 

Truyện Ngắn: Lê Mai

 

Bildergebnis für ảnh hoa trạng nguyên

 

HOA TRẠNG NGUYÊN

 

Chẳng hiểu do ngẫu nhiên hay do người viết truyện bịa ra mà ở nghĩa địa thôn Đào có hai ngôi mộ của hai người bạn thân được chôn cất cạnh nhau. Một ngôi đẹp lắm, to lắm, uy nghiêm lắm ... được ốp đá cẩm thạch đen bóng, lấp lánh ánh xanh, bia mộ long lanh dòng chữ thiếp vàng: Giáo sư tiến sĩ - viện sĩ - NGUYỄN QUANG THIÊN

Viện trưởng:...

Trước mộ ông có cây hoa trạng nguyên chẳng hiểu sao cây lá bốn mùa xanh mướt, xuân hạ cây bùng ra những chùm hoa đỏ thắm chói lọi, tươi vui.

Ngôi mộ bên cạnh thì xấu lắm, nhỏ lắm, lem nhem lắm ... Đó chỉ là một mô đất nhỏ rụt rè nhô lên mặt đất. Mùa khô thì lỏn chỏn vài hòn đất khô cứng cong queo. Mùa mưa thì nhão nhoẹt. Có lúc, có khi còn bị bãi phân trâu phủ gần kín mộ. Người làng bảo đó là mộ thằng Thiện điên. Thảo nào trước mộ, sau mộ, trên mộ chỉ bạt ngàn cây cứt lợn .

Chuyện đã đến mức như vậy chẳng hiều sao dân làng Đào vẫn nói với cháu con rằng: Ngày xửa ngày xưa, cái ngày ông Thiên thằng Thiện còn nhỏ thì ...thằng Thiện là một thần đồng. Sao thế nhỉ? Hay tại cái tên?

Nhưng có chuyện này thì chắc chắn không phải do ngẫu nhiên cũng chẳng phải do người viết truyện bịa ra, ấy là, dăm bẩy năm nay bất cứ ai trong làng có dính đến chuyện thi cử đều phải hương hoa ra mộ ông Thiên thành tâm khấn vái, cầu khẩn... Linh lắm, nghiệm lắm. Và cũng dăm bảy năm nay, năm nào cũng vậy, cứ cữ thanh minh là bà giáo sư - tiến sĩ Lan Phương lại ra chỗ hai ông tảo mộ.

Thanh minh năm nay cũng vậy, bà Lan Phương ra gò mả Lạng rất sớm. Đất trời còn trong cơn thiêm thiếp gật gờ. Gò mả Lạng vẫn hoang vu như thủa hồng hoang. Những hạt sương long lanh no tròn, căng mẩy tuổi dậy thì vẫn nhẹ nhàng phả lạnh làm cỏ cây run rẩy. Bà cẩn trọng đặt lên mộ ông Thiên (người chồng rất mực yêu bà) một khay táo Mỹ to tròn, bóng bẩy, một đĩa nhỏ đựng điếu xì gà Lahabana sang trọng, một bó huệ  tươi đài các. Rồi bà cắm trên mộ ông một bó hương trầm. Những đốm nhang xoè nở trên mộ như chùm mẫu đơn rực rỡ đang thì khoe sắc. Xong xuôi, bà quay sang mộ ông Thiện (người bạn bà rất mực dấu yêu) trải trên mặt những bông hoa cứt lợn một tấm ni lon trong suốt. Rồi cũng rất cẩn trọng bà đặt lên đó một đĩa bánh mỳ cong queo, khô cứng, một đĩa nhỏ lỏn chỏn vài đầu mẩu thuốc lá hôi xình, một bông hồng Đà lạt. Rồi bà cắm lên mộ ông một nắm hương thường. Những đốm nhang lìm lịm cháy. Xong xuôi bà bó gối ngồi giữa hai luồng khói hương đang toả ra nghi ngút. Những làn khói hương cuống quít xô đẩy nhau cố giành phần được quấn quít, ve vuốt lên bà. Và hình như khói hương trầm thắng thế. Vài làn khói hương thường lầm lũi lảng xa. Bà cười mơ hồ và ngước mắt nhìn ra phía xa. Đầm Hà, nơi ấy, mặt trời vừa oằn mình thức giấc hé mắt nhả những tia nắng hồng ngơ ngác. Bà đưa tay vờn nhẹ những hạt sương. Những làn gió lành lạnh chở mùi ẩm mốc của đồng quê thức dậy trong bà những cảm giác bồi hồi xao xuyến. Bà nhớ về năm mươi năm trước... Cái gò mả Lạng này, cái đầm Hà kia bà thuộc đến từng gốc cây ngọn cỏ. Những bụi dứa dại um tùm ven đầm là nơi bà cùng Thiên, cùng Thiện thường nép người tránh những cơn gió mùa đông bắc lạnh tái tê. Phía trái đầm Hà là cả một khoảng đất hoang rộng lớn xơ xác cỏ cây, là nơi thả trâu của lũ trẻ trong làng. Bà từ từ nhắm mắt cho những đốm lửa bập bùng hiện ra trước mắt. Những đốm lửa ảo này làm ấm long bà. Bà thấy mùi khoai nướng thơm ngọt nồng ấm đâu đây. Bà thấy lại bà của năm mươi năm trước đang khoan khoái nằm trên thẳm cỏ xác xơ, nheo mắt dõi theo những làn mây trắng hờ hững trôi trên nền trời thăm thẳm.

Dịu dàng muôn cánh hoa

Khảm trắng chân trời thẳm

Không gian mênh mông vắng...

Bà từ từ mở mắt nhìn sang phía bên phải đầm Hà. Ở nơi ấy trong cái xanh mờ ngút ngàn của đất trời có con đường làng nhỏ mấp mô, nhoà nhạt. Có cô bé Phương đầu tóc gọn gàng ngồi vắt vẻo trên dóng ngang xe đạp. Phía sau là Thiên áo quần sạch sẽ - diện là đằng khác đang hơn hớn đạp xe. Sau nữa là Thiện đầu bù chân đất, quần áo chẳng biết nhặt được từ đâu cù rù ngồi trên gác ba ga. Đó là hình ảnh quen thuộc của cả một thời cấp ba yêu dấu. Bà ghìm tiếng thở dài. Ôi quê hương! Cái quê hương khốn khó đến đau lòng mà sao da diết, mà sao bồi hồi. Quá nửa đời người hừng hực sống, sục sôi phấn đấu, tính nọ toán kia, quan hệ người này người nọ...Danh đã tới giáo sư, tài đã đến mức nhiều người kính phục, tiền đã đến mức chỉ còn băn khoăn nghĩ: tiêu sao cho hết. Thế mà, tất cả vinh quang ấy sao sánh nổi với những giây phút này - giây phút được làm người mới tuyệt diệu làm sao. Con người có số phận không nhỉ? Bà thầm nghĩ và nhớ về lần bố Thiên sang nhà bà chơi của năm mươi năm trước ...

Tiếng bố Thiên: Tôi về nhà lần này là để làm thủ tục đổi tên cho thằng Vinh nhà tôi các ông ạ.

Tiếng bố Thiện : Ông định đổi tên cho cháu thành tên gì?

Tiếng bố Thiên: Tôi đổi tên nó từ Nguyễn Quang Vinh sang Nguyễn Quang Thiên, các ông thấy có được không ?

Tiếng bố Thiện : Quang Vinh hay hơn Quang Thiên, đổi mà làm gì.

Tiếng bố Thiên: Tôi đổi tên nó thành Thiên là có ý của tôi. Các ông thấy mấy cháu nhà mình ở nhà đã gắn bó với nhau. Tôi muốn thằng Vinh thằng Thiện mãi mãi gần nhau, ở nhà, ở trường, ở đâu  cũng vậy. Như thế thằng Vinh nhà tôi sẽ có điều kiện học hỏi thêm cháu Thiện, nó sẽ tiến bộ...

Bà Phương mủm mỉm cười và hất mặt  nói với mộ chồng

- Nhận đi. Có nhòm bài của Thiện. Nhận đi cho tiến bộ. Nhưng cũng ghi nhận anh có khả năng trình bày diễn giải tuyệt vời. Anh còn nhớ lần ba đứa đi thi học sinh giỏi toán của tỉnh không? Thiên ngồi cạnh Thiện. Thiên nhòm bài Thiện. Thế mà Thiên nhất, Thiện nhì. Công nhận học bài theo kiểu copy kiến thức nó ngấm nhanh và sâu anh nhỉ....

Tiếng bố Thiện: Ông nói sai rồi. Ông là cán bộ to của nhà nước, ông đặt con vào đâu chẳng được. Thằng Thiện nhà tôi phải chạy theo thằng Vinh mới phải lẽ.

Tiếng bố Phương: Ông Hách nói phải đấy. Gần mực thì đen gần đèn thì rạng. Cháu Vinh được gần cháu Thiện là rất tốt. Gì thì gì cũng phải có bột mới gột lên hồ. Ông Lành thật tốt phúc. Bà ấy chẳng may mất sớm nhưng đã để lại cho ông cháu Thiện. Trí lực của cháu mai sau sẽ vang lừng thiên hạ. Đời ông rồi sẽ: Kim vàng giọt lệ. Đúng là: Đẻ con khôn mát L.. rời rợi...

Bà Phương lại mủm mỉm cười. Bà quay sang nói với mộ bạn

- Phải công nhận anh là một thần đồng. Từ bé đến giờ em chưa từng gặp được người nào có trí nhớ như anh, có sức sáng tạo như anh. Bái phục. Bái phục. Anh Thiện ơi, thông cảm cho em nhé. Dù rất yêu anh, em cũng không bao giờ dám lấy anh đâu. Bọn thiên tài các anh là cực kỳ ích kỷ. Các anh chỉ biết thoả mãn niềm say mê của mình còn thì quên tất, mặc tất. Sự sáng tạo của các anh có thể mang đến cho mọi người niềm vui, hạnh phúc nhưng vợ các anh - người thân yêu nhất của các anh thì sẽ lãnh đủ. Đấy là em nói tới những thiên tài gặp thời gặp vận. Còn không thì... Anh thấy đời anh đấy.Chữ tài đi với chữ tai một vần. Nhân đây em cũng thay mặt anh Thiên xin cảm ơn những phát hiện quí báu của anh, những thông tin dữ liệu chính xác của anh. Chính chúng đã giúp em và anh Thiên dễ dàng giành được học hàm giáo sư - tiến sĩ...

Bà Lan Phương đột ngột dừng tâm sự khi bỗng nghe đầy không gian  tiếng cười sang sảng của chồng. Thiên hùng hồn nói: Giáo sư - tiến sĩ có gì oai hùng mà ơn mà huệ. Hàng nghìn hàng vạn giáo sư - tiến sĩ mà đã mấy ai biết mặt biết tên, mấy ai đuợc nổi danh như những ông nông dân sáng tạo ra bẫy chuột, máy hút bùn... Các giáo sư - tiến sĩ đâu mà các phương tiện thông tin đại chúng bùng nở những lời “ Giáo huấn ca” của các hoa hậu, ca sĩ, siêu người mẫu. Ngay cả danh xưng cũng thật tệ. Họ thì Thuý Ngà , Thuý Ngọc... Mình thì, các giáo sư đầu ngành khả kính cũng chỉ: Ngoan dại, Phong sọ não, Tiến tâm thần, Quang phụ khoa...

Bà Phương cười quay sang mộ bạn nói:

- Anh Thiên nói đúng đấy. Giáo sư - tiến sĩ cũng không sang lắm đâu. Người trí thức muốn sang thì phải biết xu thời anh ạ. Có xu thời tài năng mới được sử dụng. Tài năng được sử dụng mới có ích cho đời. Mặt này anh phải mang ơn vợ chồng em nhiều lắm. Không có chúng em thì mồ hôi, nước mắt, tài năng của anh cũng chỉ là đống giấy lộn tự huỷ theo thời gian. Ma nào biết mà vận dụng vào đời sống để phục vụ cho đời. Bà Phương vừa dứt lời, những bông hoa cứt lợn nhỏ xíu, trăng trắng cuộc đời, tím lịm ước mơ rưng rưng khóc. Bà Phương khẽ thở dài nhớ về những ngày hè của mười hai năm trước...

Matxcowa, một ngày nắng đẹp. Ánh nắng nhuộm hồng những đôi má nhăn nheo của các cụ già. Thiên nhiên Nga bừng tỉnh sau giấc mơ tình nồng nàn ấm áp. Viện sĩ Mi kha Nốp viện trưởng viện hàn lâm khoa học cộng hoà liên bang Nga cùng các cộng sự lừng danh trong trang phục chỉnh tề, sang trọng niềm nở đứng đón khách ngay từ sảnh lớn của hội trường. Thiên- trưởng đoàn khoa học phía Việt nam, sải những bước đi dài nhanh đến phía đoàn viện sĩ nước chủ nhà. Bà Lan Phương trong bộ áo dài nền nã, sang trọng, miệng tươi cười, mặt, mắt rạng ngời hạnh phúc ôm bó hoa rực rỡ trước ngực lướt nhẹ theo chồng. Hôm nay, Thiên sẽ thay mặt nhóm nghiên cứu trình bày công trình khoa học “Phương pháp mới xác định vị trí, trữ lượng, hàm lượng một số tài nguyên chiến lược dưới lòng đất - Quan điểm sử dụng tài nguyên một cách hữu hiệu và thân thiện với môi trường” trước rất nhiều các nhà khoa học chuyên ngành hàng đầu thế giới. Công trình khoa học của cả đời bà, đời chồng và nhất là đời Thiện. Hôm nay, bà đẹp, bà đẹp hơn hoa. Có lẽ vậy, nên khi bà trao hoa cho viện trưởng viện hàn lâm khoa học nước chủ nhà, ông đã ôm cả hoa, cả bà trong vòng tay thân thiện. Buổi hội thảo thành công rực rỡ. Sau những đợt vỗ tay như sóng dậy của những con người rất ít biết vỗ tay trong khoa học, viện trưởng nước chủ nhà nói nhỏ vào tai Thiên câu gì đó mà Thiên ôm vội bó hoa truớc mặt bước nhanh ra khỏi hội trường. Cả đoàn vội theo ra. Họ đi rất nhanh qua khu sân sau của viện, đi về phía cây sồi cổ thụ. Thì ra, ở đó có một ông già dáng lòng khòng tóc lưa thưa trắng đứng nép mình dưới gốc cây. Ông là viện sĩ Ivanôvich lừng danh - thày dạy của Thiên của Thiện và của bà. Bà Lan Phương lao đến ôm thày. Thiên trân trọng trao thày bó hoa. Ông lơ đãng nhận hoa và ngơ ngác hỏi:

- Thiện đâu? Thiện đâu ? Hôm nay tôi mệt không đến hội thảo được. Giờ cố đến đây mong gặp tác giả của công trình nghiên cứu ... Thiện đâu?

Thiên phật ý trả lời:

- Thiện chết rồi !

Viện sĩ ngớ mặt nhìn Thiên, rồi như người nặng tai ông nói vu vơ:

- Chết à ! Chết à ! Bệnh gì ?

Thiên chủng chẳng

- Bệnh gì đâu. Chết vì tội ăn cắp. Ăn cắp.

- Anh nói sao? Anh nói sao? Viện sĩ nói lắp bắp rồi từ từ khuỵu xuống.

Lan Phương dìu thày ngồi xuống gốc cây sồi. Lát sau bà rủ rỉ kể:

- Anh Thiên nói đúng đấy thày ạ. Ngày về nước, do kết quả học tập và cũng do bố anh Thiên lúc này là cán bộ chủ chốt của bộ nên anh Thiện được phân công về vụ chính trị - Một vụ đặc biệt quan trọng có nhiều khả năng thăng tiến. Nhưng chẳng hiểu sao anh Thiện một mực phản đối, cứ đòi về viện nghiên cứu. Phản đối không được, từ đó Thiện rất chểnh mảng công việc được giao, luôn tìm cách trốn việc, tự bỏ tiền túi đi thực địa. Những ngày này bố Thiện phải bán nhà đất ở quê để cấp tiền cho con thực hiện ước mơ. Nhưng thày bảo, mấy sào vườn khô cằn, căn nhà lá xiêu vẹo ở cái làng quê chó ăn đá gà ăn sỏi thì bán được bao nhiêu tiền. Những ngày này em cùng Thiện lê chân trên các ngả đường, ăn mắm mút giòi, gặm bánh mỳ uống nước suối.... Công trình nghiên cứu của Thiện đã thu được rất nhiều kết quả khả quan có thể nói là gần hoàn thiện thì ... Bỗng nhiên, một đêm đông Thiện rét quá, không chịu được, anh lấy bàn nghế cơ quan ra đốt sưởi. Người ta cho là Thiện bị tâm thần nên vội vàng đưa anh vào viện chạy chữa. Ra viện thì anh bị tâm thần thật. Lúc này ở quê cha Thiện đã mất. Cơ quan cho Thiện ở nhờ một gian trong bếp ăn tập thể. Ngày ngày anh lang thang đâu đó. Đến bữa ai cho gì ăn nấy, không ai cho thì nhịn. Cho đến một ngày bạn bè kể lại với em chắc đói quá, đêm anh mò vào nhà dân định ăn cắp bộ quần áo đem bán đổi lấy bữa ăn thì trượt chân ngã từ tầng bốn xuống. Anh chết ngay lập tức. Chết vô thừa nhận....

          Nghĩ đến đây bà Lan Phương rút mùi xoa chấm mắt rồi chăm chắm nhìn vào mộ bạn. Những bông hoa cứt lợn dưới nắng chan hoà cũng cố ánh lên những nét trắng trong, những ánh tím thuỷ chung say đắm...Tất cả, tất cả những bông hoa cứt lợn dịu dàng đong đưa, bẽn lẽn nhấp nhô trên thảm lá xanh rờn. Bà Lan Phương từ từ đứng dậy, bẻ một nhành cây trạng nguyên bên mộ chồng cắm sang mộ bạn. Rồi cắm trước mộ bạn một tấm bia nền đen trên khắc hai câu thơ không đầu, không cưối, không tác giả lấp lánh ánh vàng:

                   ...Vi anh khát một bát nước trong    

                   Nên phải uống cạn dòng sông đục...        

          Xong xuôi bà Lan Phương lững thững ra về. Hình như lòng bà thanh thản hơn và thiên nhiên làng quê hình như cũng thế.    

                                                       

LÊ MAI

P 703- N5A- KHU ĐÔ THỊ TRUNG HOÀ– NHÂN CHÍNH-QUẬN THANH XUÂN –HÀ NỘI                        

 

 

 

 

Nhà Văn Lê Mai (P)

 

 

Ähnliches Foto

 

Người đóng thế

 

Nắng gắt. Tôi ngồi trong phòng điều hòa nhiệt độ hút thuốc và mơ màng nghĩ tới bữa cơm chiều. Cửa phòng mở, Hoàng uể oải bước vào, nói thờ ơ:

- Có lệnh, anh sang ngay phòng Tổng biên tập.

Sang thì sang, tôi sang. Tổng biên tập tắt máy, ngừng chơi quay sang nói với tôi:

- Đã lâu rồi, ông toàn viết những bài có cũng được, không có cũng được. Nay nhân đợt thành phố tổng tiến công chống mại dâm - ma túy, ông nên đi thực tế để viết một bài, chấm dứt chuỗi trăm bài viết dựa vào báo cáo đi.

- Vâng, nhưng xin anh hỗ trợ cho ít kinh phí.

- Chuyện vặt, miễn là ông phải có bài viết thực sự sinh động chấm dứt chuỗi bài… Tình là tình như không mà có… là tình… có cũng như không.

Bảy ngày sau, tôi viết xong bài, phải nói là… có thực tế có khác. Tổng biên tập đọc duyệt bài. Tôi lặng ngồi và lén quan sát sắc mặt của ông. Mươi phút căng thẳng trôi qua… Tổng biên tập nói với không trung:

- Hay! Bài hay lắm! Có thế chứ. Đúng là: Thực tế là tiêu chuẩn của chân lý. Sư bố cái anh báo cáo, nó làm phóng viên mình viết cứ như dở hơi, nhạt nhẽo, viết cũng như không.

Ông nói với không trung mà từng khúc ruột tôi cứ nở ra, nở ra mát lòng rượi dạ.

Bỗng ông nhiu nhíu mày… rồi quay sang nói với tôi:

- Bài này ông viết hay lắm, sinh động lắm. Nhưng có lẽ cái tay khách làng chơi mà ông tả thế này là không ổn rồi. Ông có biết vì sao không? Đầu như quả dưa hấu, nốt ruồi thề lề bên mép trái, lại còn từ đó rủ xuống một chùm lông bàng bạc… thế thì đúng là ông Nguyễn Bình phó chủ tịch tỉnh mình rồi còn gì, trệu làm sao được. Ông định đóng cửa tòa soạn đấy à ?

Nghe tổng biên tập nói, tôi toát mồ hôi hột. Mồm lắp bắp định thanh minh thì… tổng biên tập vẫn nhẹ nhàng nói:

- Không sao, ông chỉ cần sửa lại chỗ đó là được. Sửa xong ông đưa ngay cho tôi, đăng ngay, đang thời điểm cao trào.

Ra khỏi phòng tổng biên tập lòng tôi nhẹ bẫng. Thật hú vía! May mà ông ấy nhạy cảm chứ để in ra rồi, giấy trắng mực đen rồi thì… Tôi ngồi ngay ngắn trước bàn làm việc và vù một cái, chữa xong ngay. Nhưng để tránh tiếng nhanh nhẩu đoảng, hời hợt tôi đợi đến cuối ngày mới đem bài nộp lại.

Lưng chừng ngày sau, khi tôi đang lơ mơ trong phòng lạnh, nhẩm tính: Sau cú bài đinh này, tôi có thể ung dung dựa vào báo cáo mà ăn dần vài tháng thì… Có lệnh mời lên gặp Tổng biên tập. Lại có việc gì đây? Tổng biên tập chỉ yêu cầu sửa mỗi một chỗ thì đã sửa rồi. Hay có việc gì mới. Cửa mở, tổng biên tập vẫn nói với không trung:

- Anh ngồi xuống, đọc lại bài đi.

Tôi nói ngay:

- Tôi đọc kỹ rồi. Chỗ anh góp ý tôi đã sửa rồi.

- Có thấy gì không?

- Không có gì lạ cả.

- Đúng là gà công nghiệp. Ông đọc to lại chỗ sửa đi.

Tôi đọc to, vừa đọc vừa giải thích: Mắt him híp tôi đã sửa thành mắt lồi; Mụn ruồi có rủ lông tôi đã thay bằng hai lỗ mũi sợi đen, sợi bạc đâm ra tua tủa như chổi quét sơn cùn rồi còn gì; hơn nữa tôi còn thêm cái bụng tròn tròn ủng ủng như bụng đàn bà chửa tám tháng…

- Thôi, đọc thế là được rồi, ông có thấy gì không?

- Tôi chẳng thấy gì cả.

- Ngu! Ngu lâu khó đào tạo. Giờ ông nhắm mắt lại, tưởng tượng xem cái thằng có mắt lồi, có lông mũi đâm ra tua tủa, có bụng to như bụng đàn bà chửa… nó là thằng nào?

Tôi nhắm mắt hướng sự tưởng tượng theo gợi ý của tổng biên tập rồi chợt giật nẩy mình, lắp bắp:

- Xin lỗi anh… xin… lỗi… anh… Tôi đâu có ý định xỏ xiên gì anh, ôi, ngu quá! Ngu quá! - Tôi vỗ tay bôm bốp vào đầu.

Tổng biên tập điềm nhiên:

- Ông thấy chưa, làm báo là phải cực kỳ thận trọng, bút sa là gà chết. Tôi chủ quan không xem lại để báo in ra thì… ông giết tôi còn gì. Mắt lồi, lông mũi đâm ra tua tủa, bụng tròn tròn như bụng bà chửa… ông bảo, vợ tôi, cô ấy đọc bài viết của ông, cô ấy sẽ nghĩ cái thằng ấy là ai… Có mà thanh minh giời.

- Xin lỗi anh! Xin lỗi anh! Tưởng đơn giản nào ngờ…

- Thôi, ông mang bài về nhà, tối làm cho cẩn thận. Sáng mai nộp vậy.

- Vâng! – Tôi cúi đầu lo lắng, lê bước về phòng làm việc.

Tối. Bài học nóng hổi buối sáng nhắc tôi ngồi ngay ngắn trước bàn làm việc và thận trọng suy nghĩ. Những khuôn mặt. Những hình dáng. Những cử chỉ… lần lượt hiện rõ trong đầu tôi. Răng miệng lởm khởm, cái còn cái mất rủ như thạch nhũ trong hang, cử chỉ xun xoe… thì không được rồi – ông Khảm, phó tổng biên tập lại kêu. Đầu trán láng bóng, ruồi đậu trượt chân, ngón tay ngón chân thu lu múp míp… không ổn rồi – ông Cấn mà tự ái mình có mà ăn cám. Mũi củ tỏi thò lò, dáng oai phong bệ vệ… cũng không được – lão Kháng lão ấy cho mình chết sặc gạch ngay…

Càng nghĩ càng rối, càng bí, chỗ nào cũng động cũng chạm. Làm phóng viên đã nhiều năm giờ mới biết: viết là công việc chẳng dễ chút nào, tôi vò đầu, bứt tai bất lực. Bỗng… một ý nghĩ chợt lóe sáng trong đầu. Có thế chứ! Cái chết của anh viết văn làm báo là cứ tự phức tạp hóa vấn đề, việc chẳng có gì mà cứ hoắng cả lên. Việc thật đơn giản, quá đơn giản, cứ mình mà tả, chẳng động chạm tới ai. Tôi hăm hở viết: tóc tai bơ phờ, mồm tóp má teo… Nhưng cậu phóng viên phòng mình cũng vậy! Thế thì ta viết thêm cái bớt ở thái dương trái – chỉ mình mới có. Lưng lòng khòng dấu hỏi, chân tay ngoằng ngoẵng chữ chi… Nhưng… cậu Biên, cậu Tập cũng thế… à, thì ta thêm cái bàn tay trái 6 ngón – dị tật chỉ có ở mình thì lẫn vào ai được… Cứ thế, loáng cái tôi đã viết xong. Bỗng… từ góc giường vẳng lên tiếng vợ, giọng còn ngai ngái:

- Tắt đèn, ngủ đi anh. Hôm nay viết gì mà kinh thế?

- Viết cái bài chống mại dâm ấy mà. Mai nộp bài.

- Ôi dào, loại bài ấy năm nào anh chả có vài bài. Mai đến cơ quan lôi mấy bài cũ ra mà sửa, mà nộp. Có ma nào đọc nó đâu mà thức khuya dậy sớm cho uổng sức.

- Không! Bài này khác, đọc thích lắm. Có thực tế có hơn chứ.

- Cái gì! Cái gì! Có thực tế là thế nào?

Chẳng còn ngái ngủ, vừa nói vợ tôi vừa lao ra khỏi giường, chộp lấy bản thảo đọc ngấu nghiến. Chẳng hiểu đọc được đến đoạn nào, bỗng thấy vợ ôm mặt nấc lên:

- Khốn nạn! Khốn nạn! Không biết xấu hổ còn viết ra khoe cho cả thiên hạ biết. Giời ơi, sao số tôi lại khốn khổ nhục nhã thế này. Chồng ơi là chồng!!!

- Ơ hay, năm nào anh chẳng có mấy bài thế này đưa in.

- Trước khác, nay khác. Thảo nào viết hăng thế, say thế. Có thực tế có hơn mà… hờ… hờ… hờ…

- Vớ vẩn. Cái gì cũng vơ vào mình rồi gào, rồi thét. Tôi viết thực tế xã hội chứ viết gì về mình mà gào, mà thét!

- Vơ vào à? Vơ vào à? Thế đứa nào tóc tai bơ phờ, mặt mày hốc hác, có cái bớt ở thái dương trái? Đứa nào lưng lòng khòng dấu hỏi, chân tay ngoằng ngoẵng chữ chi, bàn tay trái có 6 ngón ? Đứa nào? Đứa nào? Rõ như ban ngày còn nói là vơ vào. Đứa nào? Đứa nào ? Hờ… hờ… hờ…

Nghe vợ hờ hờ gào thét, tôi chợt cay đắng nhận ra một điều đơn giản: mình không thể thế chân vào những việc như vậy được. Còn vợ, còn con, còn bên nội, bên ngoại, còn bạn còn bè… còn… Tôi giật tập bản thảo từ tay vợ rồi quả quyết châm lửa đốt. Lửa từ tập bản thảo phần phật réo, phừng phừng soi tỏ ánh lửa từ mắt vợ đang hừng hực lóa.

 

Lê Mai

 

 

 

THƠ LÊ MAI (P)

 

 Ähnliches Foto

 

MỎNG MẢNH

Mỏng như chiếc lá trên cành
Mà sao lá đỏ sức xanh ngợp trời
Mảnh như tia nắng nhẹ rơi
Mà sao nắng đủ sức ngời bình minh
Mỏng mảnh như thể cõi tình
Mà sao đủ sức làm mình đảo điên
Nhẹ như tiếng mẹ dịu hiền
Mà sao đủ sức vang miền tâm linh….

 


Ähnliches Foto

 

LỖI TẠI MÙA XUÂN

Rũ tất cả gió gằn, mưa nấc
Em đến bên anh dịu dàng
Trên cánh đồng hoang, chang chang màu lúa xác
Mà cánh đồng cứ là bát ngát
Mà gió đồng cứ hát nghêu ngao
Mà hương em vẫn cứ ngọt ngào…
Nắng lăn giọt trên người em lấp lánh
Em ơi! Lỗi tại mùa xuân!
Hơn một lần sám hối trước em
Sau sám hối chắc ai không mắc lỗi?
Nhiều khi lỗi tại mùa xuân…
Một chút váy xòe, cho xoe con mắt
Em ơi, lỗi tại mùa xuân!

Lê Mai

 

 

 

Nhà Thơ Lê Mai (P)

 

 

Bildergebnis für ảnh lơ lửng chân không

 

 

LỬNG LƠ

 

Chân không chạm đất

Cật không tới trời!

Lửng lơ- lơ lửng- chơi vơi…

Như sương- như khói- Suốt đời vẩn vơ…

Đời còn là một giấc mơ

Có chăng đời thật để ngờ chiêm bao?

Sướng khổ lẽ ấy tính sao?

Lửng lơ nên cũng trông vào tùy tâm.

Phật còn sắc sắc không không

Chốn mênh mông ấy cũng không điểm đầu.

Lòng người lơ lửng nông sâu

Hồn nhiên mà sống giữa đầu với chân!

 

 

Ähnliches Foto 

 

VÌ SAO HUẾ…

 

Sao Huế buồn?

Sao Huế mơ?

Sao vành nón Huế nghiêng bờ sông Hương?

        Dịu dàng mắt Huế thẳm sương

        Câu hò xứ Huế vấn vương mái chèo!

        …

Sao Huế buồn?

Sao Huế mơ?

Sao tà áo Huế thẫn thờ gió xuân?

         Sao sông Hương chảy tần ngần?

         Thì ra!… Núi Ngự chỉ gần sông Hương!

 

 

 

 

Tác Giả Lê Mai (Phải) 

 

 

Ähnliches Foto

 

 

QUYỀN ĐƯỢC RÊN

                                                

 

Cuốn tiểu thuyết thứ 8 ông mới in xong được vài ngày đã nhận được nhiều lời chúc mừng của bạn bè thân hữu. Ông vui. Ông tự thưởng cho mình vài ngày nghỉ ngơi để xả hơi, trước khi bắt tay vào việc hoàn thiện tập thơ tự sự của đời. Ông pha ấm chè Thái thật nóng. Ngồi nhâm nhi một mình trong căn nhà tuyềnh toàng đồ đạc, ông lơ đãng nhìn ra ngoài trời. Mưa! Mưa quá! Ngâu mà…

Chuông điện thoại ré lên như động cỡn. Ông nhấc máy, nhỏ nhẹ:

- Alô. Ai đấy ạ! Tôi là Hoàng, xin nghe.

- Hoàng hả. Khỏe chứ! Kha lán 9 đây! Nhớ không! Cuốn “Lẽ đời” được đấy. Hồ hởi, phấn khởi nhé!...

Ông giật thót người, buông rơi ống nghe xuống nền nhà. Trong màn mưa dầy đặc ông bỗng thấy quản giáo Quang lừ lừ đi vào. Vẫn da mặt bì bì, xàm xạm; vẫn cái phẩy mạnh tay vào không gian; vẫn cái miệng hơn hớn nói trước mọi phạm nhân: “Hồ hởi, phấn khởi nhé!” Ông chăm chắm nhìn quản giáo Quang… Những ký ức của hơn bốn mươi năm trước tưởng mãi mãi bị chôn vùi bỗng ào ạt sống dậy trong ông…

“Bao giờ đậy nắp áo quan

Mang theo xuống huyệt nỗi oan tày đình…”

Thơ ông từng viết thế.

Sau hội nghị Ấp Thôn, ông thấy mình rất hoang mang. Ở đâu, làm gì, ông cũng thấy như mình bị theo dõi, nghi ngờ. Nhiều người bạn vẫn ngày ngày bù khú, đàm đạo, trò chuyện với ông, giờ đây hình như họ tìm cách lảng tránh. Ông lơ mơ đoán: có chuyện rồi. Nhưng là chuyện gì thì ông chịu. Ông uể oải đạp xe đến nhà thi sĩ Phương – người nổi tiếng với biệt danh “Biết tuốt” để dò hỏi. Với vẻ mặt quan trọng của kẻ “biết tuốt” những bí mật quốc gia, thi sĩ Phương nhẩn nha nói: “Có nhiều người dò hỏi về cậu lắm, cậu phải liệu. Nghe nói, ở hội nghị Ấp Thôn người ta xếp cậu là Kẻ nổ phát súng đầu tiên của phái Nhân Văn đấy. Nổ phát súng đầu tiên, cậu hiểu không?” Nghe thế, ông trợn tròn mắt nói:

- Vô lý! Họ căn cứ vào đâu mà kết luận thế. Vô lý. Thậm vô lý!.

- Họ không vô lý đâu. Họ dựa vào đơn tố cáo của thằng Năng Lé. Nó dựng đứng chuyện cậu dịch bài “Văn nghệ và chính trị” của Lỗ Tấn là khơi mào cho một âm mưu. Tưng tửng hỏa mù thế thôi! Đấy, cái chết của anh em mình nằm ở chỗ ấy đấy. Văn chương mà, hiểu thế đếch nào chẳng được.

Lời tủng tẳng của thi sĩ Phương làm ông đã hoảng lại càng thêm hoảng…

Nhưng nỗi hoang mang không phải kéo lâu. Vào một ngày, ông cũng không rõ nắng mưa ra sao, chỉ biết vào khoảng gần trưa, có hai người đàn ông ăn mặc bình thường cùng người tổ trưởng dân phố bước vào nhà. Họ yêu cầu ông đứng dậy, rồi một người dõng dạc đọc lệnh khám nhà. Sau lệnh, tất cả giấy tờ, sách báo, bản thảo và cả những quyển sách Mác-Lê dày cộp cũng được xếp lên chiếc xích lô đỗ xịch trước cửa nhà. Ông cúi đầu lặng lẽ bước theo họ. Vẳng theo ông là những tiếng thút thít kìm nén của vợ con. Định dừng bước nói với vợ con vài lời, nhưng họng ông nghẹn ứ. Một cú huých nhẹ và một lời thúc giục nhỏ, nhưng đanh: Đi. Đi mau…

Trại 12 Hỏa Lò, vẫn thế - ông đưa mắt nhìn quanh. Trước thời gian, mọi vật đều biến đổi. Nhưng có lẽ, nhà tù là nơi biến đổi chậm hơn cả. Vẫn cái nhà xí mốc meo, hôi thối. Vẫn cái bể nước tầng tầng lớp lớp rêu phong. Vẫn cái không gian mờ mờ ẩm ẩm. Ở đây, hơn mười năm trước ông cùng các tù nhân trong trại đã tận mắt chứng kiến những giây phút bi tráng cuối cùng của người chiến sĩ cộng sản họ Hoàng trước khi ra pháp trường. Cũng ở đây, ông phải căng đầu suy nghĩ để chống lại những cuộc hỏi cung mưu mô và căng thẳng của bọn Phòng Nhì Pháp. Hơn mười năm trước, tang chứng vật chứng “phản lọan” của ông và các đồng chí đã rõ ràng nên kẻ thù mới đầy được ông lên Sơn La… Giờ  tang chứng, vật chứng có gì đâu cơ chứ! Hơn nữa, lòng ông sạch. Ông thanh thản chờ đợi cuộc hỏi cung để tự biện minh cho mình. Nhưng… Chờ mãi, chờ mãi vẫn chẳng thấy gì. Nửa tháng sau, ông được đưa lên núi rừng Yên Bái. Những thâm niên ở nhà tù Hỏa Lò, Sơn La ngày trước bỗng thức dậy trong ông một sự dò kiếm, tìm hiểu những điểm giống nhau, khác nhau giữa chúng với trại cải tạo Yên Bái của ta bây giờ. Núi thì cũng điệp trùng, rừng thì cũng âm u đến như Sơn La là cùng. Có lẽ nhà tù Đế Quốc hiện đại hơn, nhiều bê tông, nhiều kẽm gai sắt thép hơn và dữ dằn hơn – lính canh gác quanh mình đầy súng đạn, còn ở đây thì… chỉ những lán tre nứa, ọp ẹp; chỉ những sạp giường nứa gồ ghề và những hàng rào tre nứa sơ sài và những anh quản giáo hiền hiền ngô ngố. Nhưng chớ coi thường… Ở Sơn La còn có thể vượt ngục được nhưng ở đây thì… trốn ra ngoài rồi sống ở đâu, vợ con sẽ ra sao? Ông khẽ rùng mình. Ở lán trung tâm ông thoáng nhìn thấy văn sĩ Phùng, thi sĩ Thảo, họa sĩ Phạm. Mấy gã còn nháy mắt gật đầu trêu ông như ở ngoài đời. Ông vội quay mặt, lờ đi như không biết gì – kinh nghiệm tù dạy ông phải thế. Sao lại đông thế nhỉ? Họ mắc tội gì? Ông thèm được nói chuyện với họ quá mà không dám nhìn lâu.

 

Lán 9 – nơi ông ở có 16 phạm nhân. Mươi anh ăn cắp vặt, du thủ du thực; dăm anh đâm người, đánh vợ; ông và Apao (nghe nói, đâu như anh này chứa chấp thổ phỉ). Một dãy nhà tre nứa, tuềnh toàng, ọp ẹp nằm thườn thượt như nấm mồ hoang, cỏ chui qua vách nứa. Ông hòa nhập nhịp sống của trại rất nhanh. Sáng sáng, khi hồi kẻng lành lạnh rờn rợn ré lên, là ông đổ nước vào miệng, súc òng ọc vài cái rồi ra lĩnh củ khoai ăn sáng. Xong là ra lĩnh cuốc xẻng, quang gánh – công cụ cho một ngày lao động. Định mức là rất rõ ràng cụ thể, nhưng có hoàn thành hay không lại là việc không quan trọng. Quan trọng là ý thức: phân công việc gì cũng chấp hành không ý kiến, không thắc mắc. Quan trọng là: khi có mặt quản giáo phải cố làm việc hăng say, chờ lúc quản giáo vẫy tay gọi phải nhanh nhẹn chạy đến, đứng cách xa 3m cúi đầu, lắng nghe lời huấn thị, giáo dục của quản giáo: “Hồ hởi, phấn khởi nhé – Đào sâu suy nghĩ nhé!” Tất cả chỉ có thế thôi. Rồi buổi tối ngồi gật gà bình xét. Khổ, đói rồi cũng quen, nhưng nhớ nhà thì không thể. Chiều chiều, sau bữa cơm thấy Apao lánh riêng ra một chỗ, đăm đắm nhìn rừng núi thâm u là ông lại lặng lẽ rơi nước mắt. Apao nó đang nhớ nhà, nhớ rừng… Ngày ông bị bắt, đứa con út mới sinh được mấy ngày, mới chỉ kịp đặt tên. Vợ đã yếu giờ lại bị cho thôi việc. Tấm thân gày còm ấy giờ đây biết làm gì để nuôi bốn đứa con nhỏ dại. Tuần trước, nghe nói, họ cử cán bộ đến tận nhà vận động vợ con ông đi xây dựng vùng kinh tế mới. Hoàn cảnh kinh tế khó khăn… Những lời nói đường mật… Những viễn cảnh ngọt ngào… Lòng ông nóng như lửa đốt. Ông muốn thét vào không gian dặn vợ: “Cố bám chặt lấy phố phường. Cống rãnh, đường phố sẽ giúp Em và các con vượt qua hoạn nạn.” Nhưng núi rừng trùng điệp thế, không gian mang mang thế làm sao ông dặn nổi vợ con! Ông đau đáu thấy mình có tội với vợ con. Bất lực, bí tắc, ông lê chân đến đứng trước mặt người quản giáo – người trạc tuổi con ông, chưa đọc thông viết thạo. Ông chắp tay, cúi đầu, giữ đúng khoảng cách 3 mét rồi nhỏ nhẹ thưa: “Thưa cán bộ, trường hợp tôi bao giờ thì được ra toà?”  Ra tòa! Phải! Ra tòa! Các phạm kinh tế hay hình sự ở lán ông ai cũng đã được ra tòa. Họ có án đàng hoàng. Họ biết rõ ngày đi – cũng biết rõ ngày về. Còn ông… Ông mong ước được ra tòa. Ra tòa – ông nghĩ: Mọi việc sẽ được phân định rõ ràng. Trắng ra Trắng. Đen ra Đen. Lúc ấy, dẫu có phải đi tù ông cũng không oan ức. Người quản giáo nhìn ông. Nhìn từ đầu xuống chân rồi khinh khỉnh nói:

- Ông là nhà văn có tiếng mà còn dốt thế! Tù rồi còn đòi ra tòa làm gì?

Ông lạnh người nhận ra cái tuyệt đúng, tuyệt gọn, tuyệt dễ hiểu của lời lẽ anh quản giáo, nhưng như thế thì mông lung quá, mịt mờ quá… Ông rụt rè thưa tiếp:

- Nếu không ra tòa, không có án tôi biết sao được tội gì? Hình phạt là bao nhiêu năm?

Nhìn ông, anh quản giáo cười hiền, tỏ ý thông cảm:

- Dốt thế, ở tù cũng đáng... Ông là đi học tập, đi cải tạo chứ có phải tù đâu mà hỏi án bao nhiêu năm. Đi học tập, đi cải tạo thì bao giờ học tập tốt, cải tạo tốt thì… ra trường. Tốt nghiệp ý mà! Muốn biết bao nhiêu năm thì phải tự hỏi mình chứ hỏi gì tôi. Thôi, hồ hởi, phấn khởi nhé!.

Ông ghìm tiếng thở dài ngao ngán, biết mình rơi vào tình trạng sống dở chết dở rồi, muốn thoát khỏi nó chỉ còn cách:

“… Tôi đã sống rất nhiều ngày thảm hại

Khôn ngoan không dám làm người

Bao nhiêu lần tôi không thực là tôi…”

Phải biết chấp nhận thực tại. Chấp nhận một cách hồn nhiên và phải luôn hồ hởi, phấn khởi. Apao đấy. Họa sĩ Kha đấy. Họ đi tù rất hồn nhiên, đâu có trĩu nặng như ông. Càng hồn nhiên, giác ngộ tốt, hồ hởi, phấn khởi, sẽ càng chóng… ra trường.

 

Mấy tháng sau, ông được giám thị gọi lên giao nhiệm vụ mới: làm y sinh – dùng lá lẩu quanh trại chữa bệnh cho phạm nhân của trại. Hồ sơ lý lịch cho họ biết, ông có tài vặt này từ khi ngồi tù thực dân ở Sơn La, có lẽ vậy. Tốt quá! Nhận nhiệm vụ mới ông rất vui. Vui vì nhiều lẽ. Từ đây ông được tạm chia tay với cuốc, với xẻng, với gánh phân… với những tối ngồi bình xét ngày lao động. Từ đây không có người giám sát, ông sẽ có thời gian tranh thủ hái thêm mớ rau rừng, vồ thêm con cóc, đập thêm con rắn cải thiện bữa ăn, bồi dưỡng cơ thể để còn có sức mà về với mẹ đĩ. Ông bồi hồi nhớ tới lần vô tình nhìn thấy con cua đang lổm ngổm bò dưới đáy ruộng lúa. Ông gạt vội đám đỉa lúc nhúc ngoe nguẩy trên mặt nước, ào xuống ruộng, vồ gọn mấy chú cua. Xé từng con ăn sống, mà chất ngọt chất bổ của con cua thấm đến đâu ông biết rõ đến đấy. Đúng là bổ hơn cả nhân sâm. Từ đây, ông sẽ có dịp la cà sang các lán chuyện trò, thỏa chí tò mò ham biết của nhà văn. Và nhất là việc trị bệnh cứu người còn giúp ông nuôi dưỡng ngọn lửa tính người mà giờ đây trong ông nó chỉ còn leo lét cháy… Nghe đồn, ở lán chân đồi còn gọi lán Đồi Ma có nhốt một phạm lạ. Phạm này chẳng biết mắc tội gì. Cũng chẳng biết có điên hay không. Chỉ biết từ ngày vào trại hắn chỉ nói, nói sang sảng, nói toàn đúng, nói tới mức giám thị trại phải nhốt riêng hắn ra một lán khuất nẻo. Hôm trên đường sang lán 4 chữa bệnh, ông ngó trước ngó sau không thấy ai liền tạt sang lán Đồi Ma. Đúng lời đồn, khi còn cách lán vài chục mét ông đã nghe tiếng nói sang sảng phát ra. Giọng nói có âm có sắc, tròn vành rõ chữ, khúc triết mạch lạc nhưng đã đuối. Ông ghé mắt nhòm qua vách lán. Trong không gian tử thần có một bộ xương người ngồi ngay ngắn trên mặt sạp nứa dài thườn thượt. Từ lỗ thủng sâu hoắm trên chiếc đầu lâu sang sảng phát ra tiếng nói rất hay và tuyệt đúng. Ông rùng mình, bỏ chạy. Hai ngày sau hắn chết. Ông ghìm tiếng thở dài, thương lắm số kiếp một sinh linh nhỏ bé. Con người có số phận không? Ông nhớ, sau lần vượt ngục Sơn La, tổ chức Đảng cho người tìm đến tận nhà giao cho ông một cái chức kha khá… Tiếp theo là những ngày hoạt động sôi nổi, tràn đầy hào khí. Những bài thơ, trang văn, lời kịch đậm đà lòng yêu nước diết da toát ra trong bản ngã của con người nhân hậu có sức hút công chúng lạ lùng. Ông hừng hực sống. Ông rạo rực sống. Miền Bắc hoàn toàn giải phóng, toàn Đảng toàn dân náo nức bước vào thời kỳ xây dựng CNXH, ông háo hức vung ngọn bút náo động kịch trường. Ngày đêm ông say sưa làm việc, lúc viết kịch bản, viết báo, viết thơ…, khi làm đạo diễn chọn diễn viên, phân vai, chọn cảnh; lúc gặp người này, khi người khác gặp… náo nức tưng bừng… Thế mà bỗng nhiên, thoắt một cái thành thằng tù xa vợ, lìa con, bạn bè lảng tránh…

 

Ông ngậm ngùi chợt nhớ đến cái ngày ra tù… “Một ngày tù nghìn thu ở ngoài”. Ra tù, ở Yên Bái tiếng ấy reo vang, hừng hực như lửa phát nương nhưng khi về đến đô thành nó trở thành đốm lửa ma lạnh lẽo. Ở Yên Bái bạn tù lưu luyến tiễn đưa, về đến nhà không bạn bè thăm viếng. Thậm chí mấy ngày sau, ra phố vô tình gặp người bạn văn (người bạn hiểu rõ nỗi oan khuất của ông giờ đã có chức có quyền trong làng văn nghệ), người đó kéo sụp mũ che mặt lảng tránh… Cũng phải thôi, họ sợ liên lụy. Ông tự nhắc mình: giờ đây trong quan hệ mình phải thận trọng giữ gìn đừng để liên lụy đến bạn bè hàng xóm. Ngày ông đến đồn công an trình báo, người chiến sĩ công an trạc tuổi con ông (cái tuổi mà khi ông và đồng đội bừng bừng dũng khí tham gia cướp chính quyền thực dân – phong kiến, chúng còn đỏ hỏn) nghiêm khắc, ân cần giáo dục và nhắc nhở ông phải sống sao cho ra sống. Lòng ông nhức nhối, buốt đau. Giá trước đây thì… Nhưng giờ đây, sau những lời giáo huấn đó là hộ khẩu, tem gạo; là người vợ và những đứa con xanh xao, gầy còm, ngơ ngác sống, rụt rè sống, nhẫn nhục sống… Ông lểu thểu về nhà, lăn ra giường và nghĩ miên man. Phải kiếm việc để làm ngay – ông tự nhủ. Nhưng, làm gì? Văn sĩ Đoàn nói: “Vì không biết làm gì, tôi phải làm nhà văn.” Còn ông, đến nhà văn cũng không được làm thì làm gì? Làm gì?... Té ra, một ngày ở ngoài nghìn thu ở tù. Ông lò dò đến thùng gạo. Mở nắp thùng thấy chỉ còn vài lon gạo. Ông giật mình hiểu ra cái khảnh ăn của vợ con. Thảo nào, vợ con ông gầy gò, xanh xao thế! Phải tìm việc đi làm ngay – ông tự nhủ rồi đi luôn đến nhà văn sĩ Trần. Nghe nói, mình đi Yên Bái được ít lâu thì cậu ấy cũng bị nghỉ việc. Lăn lộn hè phố lâu rồi, chắc cậu ấy có nhiều mối tìm việc, lo gì ế! Ông căng mắt nhìn xiên vào lớp không gian mờ mờ ảo ảo, trống trải, lạnh lẽo như căn nhà mồ và giật mình, ngơ ngác khi nhận ra hình dạng người bạn nối khố. Than ôi, thời oanh liệt nay còn đâu! Đúng là: hết thời kỳ oanh đến thời kỳ liệt. Còn đâu văn sĩ Trần đầy vẻ tinh tướng. Ăn mặc thì phong lưu, đài các. Lời nói thì khúc triết, văn hoa. Đi đứng thì ung dung tự tại. Giờ đây, văn sĩ Trần lừng danh đang ngồi co ro như chú gà rù trên chiếc giường giẻ quạt cũ, đầu gối quá tai, nom rũ rượi, thê lương hơn con bù nhìn trên ruộng. Vừa nhìn thấy ông, văn sĩ Trần hơi ngửa mặt cười và nói luôn:

- Học tập xong rồi hả? Giác ngộ rồi, đến giáo huấn ta đấy phỏng?... Ngẫm kỹ thấy anh cũng giỏi. Giỏi lắm! Người đời phải gây tội mới được tù. Còn anh, chẳng phải nhọc xác gây gì cũng được tù. Thời Pháp đi tù thời Pháp. Thời ta đi tù thời ta. Thời nào cũng được tù. Dễ thường nghề tù cũng đến kịch bậc rồi chứ kém cỏi gì!

- Tưởng cậu hộ khẩu ngoài đường phố. Biết đâu lại “cấm cung” thế này! Yếu liễu đào tơ quá! Nghe nói, tớ đi Yên Bái được mấy tháng thì cậu cũng có quyết định cho thôi việc hả?

- Quyết định quyết đeo gì đâu. Sau mấy hôm kiểm điểm, đến cơ quan làm việc tự dưng thấy anh em nhạt nhẽo với mình quá. Cứ xà vào đâu thì chúng nó hình như lại lảng đi. Cũng chẳng thấy thủ trưởng phân công công việc… Được vài hôm như thế thì chán, thì nghỉ, chứ quyết định quyết đeo gì. Ông Trương, thằng Phùng, thằng Nguyễn cũng nghỉ việc cơ quan rồi. Thằng Phùng ra bờ hồ cắt tóc, gần cây đa ở đền Ngọc Sơn ấy. Ông Trương tối tối xách sọt đi các chợ, bới rác nhặt lá lẩu về nuôi lợn, nuôi người. Thằng Nguyễn đi đội than ở Vọng. Ông có biết thằng Văn không? Thằng ấy hóa ra số sướng ông ạ. Khi ở nhà, thì nhà cạnh hồ, tha hồ sát cá. Giờ lại được điều đến nông trường trông giữ mía cho Hợp tác xã ông ạ. Đúng là chuột sa chĩnh gạo. Phải tay ông thì, mía sẵn đấy ông cứ “tẩn” cho đã đời.

- Ông tìm được việc làm ổn định như chúng nó chưa?

- Ông lạ gì tôi. Tôi thì làm được cái đếch gì ngoài việc viết. Học từ tấm bé đến giờ. Cái kìm còn không biết cách cầm. Mó phải cuộn dây điện nằm trong tủ còn sợ giật. Giờ không được viết nữa thì ở nhà trông nhà, nấu cơm, cho vợ với cái mẹt thuốc lá lê la đầu đường xó chợ. Thương bà ấy, trước tôi cũng lò dò ra giúp thêm. Nào ngờ cứ dò ra lần nào là lần ấy mẹt thuốc bị bắt. Họ không bắt mình mà chỉ bắt mẹt thuốc mới đau. Sau bà ấy cấm chỉ, bắt tôi cấm cung ở nhà. Lúc nào buồn quá thì… “Mây ở đầu ô, mây lang thang”…

- Nghe nói, cậu Hoàn – bạn con chấy cắn đôi với cậu, dạo này lên to lắm. Đến nhờ nó một câu việc gì chẳng xong. Có việc làm nó mới ra con người ông ạ.

- Tớ đếch đến! Mình gặp nạn nó không đến, mình lại mò đến xin xỏ, nhờ vả nó thì còn ra đếch gì cái tình bạn. Mà có lẽ bạn mình tinh những loại hiểu biết, giỏi giang, vô tình gặp mình trên phố chúng đều biết cách kéo sụp mũ xuống che mặt, lảng tránh. Làm vậy đỡ khó xử ông ạ!

“ Mai sau có gặp lại nhau.

Xin đừng cúi mặt để đau lời chào.”

Nó không đánh hôi mình thế là tốt rồi.

- Nó thù ghét gì mình mà đánh hôi. Chẳng qua là do bị phân công mà phải viết thôi. Thông cảm với chúng nó – người mà.

- Ông ở xa nên không biết. Đúng là chúng nó chẳng có thâm thù gì với mình. Đúng là có đứa bị phân công, nhưng cũng có đứa vì chút lợi lộc, quyền chức nhỏ nhoi mà a dua, xiểm nịnh. Có đứa té nước theo mưa để ra vẻ ta đây là oai, là quan trọng, là trung thành và cách mạng tới cùng… Lão Sơn đấy, khi bài Nam Chinh mới ra đời thì hết lời khen ngợi, tụng ca, giờ thì quay ngoắt 180 độ phê cái này, phán cái kia, đọc mà lợm giọng. Nhưng thôi, giờ cái gì đã qua rồi thì cho qua luôn, không giữ cho khỏi rặm bụng. Hỏi thật nhá: Hôm nay anh đến định nhờ tôi xin việc chứ gì? Phải thì khai ra!

- Phải! Nhưng tôi về đây. Ốc còn chẳng mang nổi mình ốc…

- Thế mà lại mang được cọc cho rêu đấy. Ông có thích đi đẩy xe bò không? Đẩy thôi. Phụ thôi. Không được cầm càng đâu. Cầm càng là phải giỏi lắm! Lớ ngớ nó tùng bê mẹ xe bò lên, người lơ lửng trên không trung như con nhái bén ấy. Tôi có quen anh tổ trưởng tổ vận chuyển Toàn Thắng. Chưa bại lần nào. Ở đấy họ đang cần tuyển một người đẩy xe kiêm bốc dỡ hàng. Lương công nhật đồng tư một ngày, không cao lắm nhưng cũng nhiều hơn tiền công đan thuê của mấy con vịt giời nhà ông. Bở đấy. Thích thì tôi xin cho. Áo quần đầu tóc lếch thếch thế này là tốt rồi nhưng… phải cái là da còn trắng quá, mịn quá.

- Bở đấy. Ông làm đi. Tôi đâu dám cướp “nắm cơm chim” của bạn.

- Tôi cũng muốn làm lắm nhưng họ không dám nhận. Không dám nhận ông hiểu không? Cái tình thế khốn nạn của tôi là thế đấy. Thà như ông đi tù rồi là xong. Thằng tù rồi thì làm gì mà chẳng được. Còn thằng tôi, thật sống dở chết dở…Việc đang làm thì tự nhiên nghỉ. Bài viết chẳng dám in… Chẳng có tai tiếng gì nên thiên hạ họ vẫn nghĩ mình cao sang lắm… Anh đây công tử không nhà. Cái áo đi mượn cái quần đi thuê… mà họ vẫn tưởng là ông nọ bà kia. Tôi đã xin tay tổ trưởng rồi, hắn tưởng tôi nói lỡm nên lại nói dỗi, càng làm mình thêm đau. Thế có chết cha mình không. Thôi, không dài dòng, ông theo tôi đến gặp nó ngay, không nó nhận người khác thì khốn…

 

Ông từ từ mở mắt, nhấp nhẹ một hớp chè, tự thưởng cho cái trí nhớ của mình. Mấy chục năm ba chìm bảy nổi ngỡ tưởng tất cả đã trôi vào quên lãng, nào ngờ… Ông nhớ rõ từng chi tiết, từng từ ngữ, từng biến thái sắc mặt của văn sĩ Trần trong cuộc trò chuyện đó. Giờ đây bạn ông đã là người thiên cổ. Hết rồi, đời của một con người tài hoa bạc phận nhưng những gì bạn ông làm được lúc văn chui – rượu lậu vẫn còn cả đấy… Những trang văn, những bài thơ bạn âm thầm viết, giấu vợ, giấu con, giấu bè giấu bạn… mà sao thấm đẫm tình người, mà sao run rẩy cõi không gian. Giá mà ông Trần còn sống, cùng ông đi dự lễ phát giải thưởng văn chương cho ông Sâm (trong lũ chúng ta) thì ông Trần sẽ nói gì, khi thấy cảnh vợ con ông Sâm xốc nách, đặt ông lên ghế ngồi. Còn ông Sâm chỉ lặng lẽ ngồi, mặc cho mấy giọt cặn lệ khó nhọc rỉ ra nơi khóe mắt. Một vinh quang cay đắng. Một hạnh phúc muộn mằn. Ai đó nói nhỉ:

Hạnh phúc đến sao người thân nước mắt rưng rưng

Hạnh phúc muộn, mong manh hơn sợi khói

Hạnh phúc đến, anh lặng không cười nói             

Anh biết mình, không còn được như xưa…

                Thương những giọt nước mắt rơi

                Nuối tiếc thời hoa đỏ

                Lo sợ ngày mai…

Trên đỉnh cao vời vợi

Gió rít mịt mùng

Đỉnh chon von, chơi vơi…

Mà anh tóc bạc, da mồi…

Hạnh phúc muộn như trái cây chín ép

Chỉ nhợt nhờ, ưng ửng đến quái thai

Chỉ sợ xấu trai!

Không cần đẹp lão!

Phải lắm! Đẹp lão còn nhử được ai! Mà có nhử được cũng bất lực, phí cả cái đẹp đi. Nhưng nói thế liệu có thái quá không? Vì méo mó có vẫn hơn không. Hơn nữa, chí ít đó cũng là sự ghi nhận: lũ các ông đâu phải tồi. Suối giải oan cũng bớt đi được vài chục giọt… Ông tủm tỉm cười khi nghĩ tới cảnh ông hân hoan từ nhà văn sĩ Trần về báo cho vợ con biết tin: ông đã trúng tuyển và được bổ nhiệm làm thằng đẩy xe bò kiêm bốc vác trong tổ vận chuyển Toàn Thắng – không bại. Nghĩ vợ con cũng mừng rú như ông, nào ngờ… Họ ôm mặt khóc thút thít. Những tiếng nấc nức nở, xót thương làm ông hoảng sợ. Thời gian sau, khi công việc đi vào ổn định, cả nhà đã quen cảnh sáng sáng ông úp chiếc nón rách lên đầu, tay xách liễn cơm lầm lũi bước ra khỏi nhà, vợ ông mới nói: hôm đó họ khóc vì họ thương ông quá. Một nguời chữ nghĩa đầy mình, thông minh sáng láng, tiếng Tây tiếng Tầu vanh vách…, phải đi tù còn có thể hiểu được, chứ làm ông xe bò kéo thì họ chưa bao giờ tưởng tượng được. Cái bà, trông thế mà lạc hậu. Còn vương vít tư tưởng tiểu tư sản (Tạch – Tạch – Sè). Thời đại mới: lao động là vinh quang. Là nhà văn, là nghệ sĩ, là giáo viên hay anh hót cứt đều vinh quang tuốt. Ăn trộm ăn cướp của ai mà xấu hổ. Hơn nữa, lao động sinh niềm vui. Tự giác ngộ mình thế thôi, nhưng thực lòng những ngày đầu đi đẩy xe bò ông thấy ngượng ngùng, xấu hổ… Vẫn chỉ dám cắm mặt xuống đường và rất lo gặp người quen. Lòng tự nhủ phải dấu mình, để lòi đuôi ra thì rách việc lắm…

“… Li ti đi dưới gầm trời

Vẫn lo nhiều lúc mây rơi trúng đầu…”

Rồi cũng dần dần quen… Những ngày đi đẩy xe bò, cắm mặt xuống đất ông thấy lòng thanh thản, đầu óc thư thái, ăn ngon ngủ say. Vĩnh biệt nhé danh hão! Vĩnh biệt nhé họp hành, kiểm điểm! Rồi ông cũng tự nhiễm những “thói quen nghề nghiệp”: nắng thì úp mê nón rách lên đầu, nóng thì quần đùi - cởi trần, khát thì chổng mông bên vòi nước công cộng, mưa thì phủ chiếc áo tơi… Những thói quen rất tốt cho cuộc sống đầy cảnh giác. Giờ thì ông đã an tâm sống. Trong con mắt của đồng nghiệp, cái anh Hoàng hiền đến mực cậy mồm mới nói vài câu, chỉ được cái hùng hục làm, đích thực là người của họ, cũng bố cu mẹ đĩ, cũng thành phần cốt cán, không có gì phải cảnh giác. Cuộc sống và sự nghiệp của ông sẽ êm ả trôi nếu không có một lần… Quái lạ, cái đất nước mình, ở đâu, môi trường nào cũng có gái đẹp mới chết chứ. Cái cô Thúy đã đi đẩy xe bò mà người ngợm cứ ròn tan, tươi tắn. Lại còn cái mắt, cái mồm mới diệt giới làm sao. Lại còn cứ tìm cớ trêu chọc, va chạm. Những va chạm, tình tứ làm ông nhớ về những ngày tháng huy hoàng… Những cô đào, nghệ sĩ lừng danh thiên hạ cũng va thế, cũng chạm thế, cũng liếc thế… Mình là thằng đẩy xe bò, ngơ ngơ, dôn dốt – ông luôn tự nhắc mình và cố lờ như không hiểu những lời trêu chọc:

Ai sinh ra cái xe bò

Để chàng quân tử kéo gò lưng tôm

Dựa lưng vào chiếc xe, ông lấy nón úp lên mặt, vờ như nằm khểnh mặc mẹ đời. Lại vút lên tình tứ:

Làm trai cho đáng nên trai

Ăn cơm với vợ còn nài vét niêu

Rồi những cái lay, tiếng giục, tiếng cười rạo rực… Nó nhìn cậu, nó cười kìa… Không dằn nổi mình, ông buột miệng:

Gái này là gái cũng liều

Thắt lưng thật chặt giằng niêu với chồng

Tiếng vỗ tay, cười nói rầm rầm làm ông hứng khởi. Chợt nhận thấy ánh mắt nghi ngờ, cảnh giác của ông tổ trưởng. Ông giật mình ân hận. Rồi đến một trưa nắng. Nắng mềm đường nhựa. Nắng cháy gió. Có hai người Pháp đỏ như tôm luộc nói với nhau những lời lo lắng vì lạc đường. Ông bèn chỉ cho họ biết đường về khách sạn Metropol… Việc chỉ vậy thôi nào ngờ… Chỉ ít phút sau ông đã phát hiện thấy tay tổ trưởng bí mật vào đồn công an trình báo những điều nghi vấn. Ông ghìm tiếng thở dài, số kiếp ông sao khổ vậy, người ta làm người lao động sao dễ thế, mà ông… Ông nhớ tới ông Xuân ở bãi Phúc Tân, trốn cải cách ở quê lên bãi sinh sống. Cũng trắng trẻo thư sinh như ông, cũng tiếng Tây tiếng Tàu làu làu mà cũng xe bò ba gác như ông, tối tối còn xách cái đèn dầu đi học bình dân học vụ. Hai năm ròng học không xong cái vỡ lòng nên gia đình được xếp thành phần dân nghèo thành thị. Giờ đây ông ấy đã là người lao động thực thụ rồi, không còn ai eo xèo, xoi mói. Thế mà ông đoảng quá… Binh tình này phải nghỉ việc thôi. Gia đình đang đi vào thế ổn định. Các con đang thì lớn, ăn như tằm ăn rỗi. Da vợ, má con đã có chút sắc hồng. Chẳng ai còn phải khảnh ăn như trước…

 

Ông lại nhấp ngụm chè nhỏ và bất chợt lè lưỡi nhớ tới từng ngày đi đào hầm thuê sau đó. Các cụ nói cấm có sai: Nhất thổ nhì mộc.Ông không thể quên những lần vung chiếc búa chim xuống nền đá ong khô khốc. Hai cánh tay bật chùn lại. Một luồng điện giật nẩy toàn thân. Ông khạc mạnh vào lòng bàn tay một bãi đờm vấy máu. Lúc đó ông hoảng hồn, nhưng rồi lại có cách tự trấn an mình. Hồi ở nhà tù Sơn La, có lúc ông đã thổ ra từng bát máu, rồi cũng có sao đâu. Hơn nữa, bát cơm nào của người lao động chẳng đổi bằng mồ hôi, xương máu. Ông lại nghiến răng vung cuốc. Công việc đang thuận lợi, thu nhập cũng rảnh rang thì… Sư cha cái anh Giôn Xơn, nó lại tuyên bố: Ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra. Nghĩa là, nó ngừng ném bom ở khoảng không gian mà ông sống và đào hầm để kiếm sống. Thế là… ông lại thất nghiệp. Nhưng ơn giời, phúc tổ, các cụ lại nói đúng: Trời sinh voi thì sinh cỏ. Trong lúc chưa biết nên buồn hay vui, khi mà anh Giôn Xơn giở chứng thì ông lại gặp vận may: ông được anh buôn chó tuyển luôn làm phụ tá. Thế là từ đấy, sáng sáng với chiếc xe đạp tòng tọc, với 2 chiếc sọt sắt buộc chắc chắn 2 bên gác ba ga, với cái thòng lọng cắm sau yên, ông thong thả đạp xe sau anh lái chó, đi khắp đường làng ngõ xóm. Đường xá ngoại thành và các vùng quê lân cận nhỏ lắm, xấu lắm. Nắng thì xóc nẩy người. Mưa thì lầy ngập ngụa. Nhưng gió. Nhưng nắng. Nhưng bát ngát cánh đồng. Bỗng thi hứng dạt dào trong ông. Ông dùng ý chí cố gạt nó ra khỏi đầu. Văn chương là thứ cực kỳ nguy hiểm. Vinh quang chẳng đáng là bao mà nhục nhã ê chề thì vô tận. Ngày ra tù ông đã ngầm tự hứa sẽ cai nó, sẽ cạch nó đến già. Nhưng gió, nhưng nắng, nhưng hương đồng gió nội, nhưng những thôn nữ dịu dàng, e ấp như lúa, như ngô… khiến thi hứng giờ đây cuồn cuộn trào dâng. Ông chặc lưỡi . Sao mình lại không viết? Chẳng lẽ những cái mình viết trước đây đều vớ vẩn sao? Cứ viết. Giờ chưa hiểu thì sau sẽ hiểu. Lưu Bang chẳng từng đã đái vào mũ Lục Sinh sao? Sau lại phải dắt cả hoàng tộc và bá quan đi tế trên dòng sông nước Lỗ để mua lòng sĩ phu trong thiên hạ? Lịch sử nhiều nước đã chứng minh chỉ có hôn quân, bạo chúa mới căm thù trí thức, căm thù sách vở. Phải viết. Phải viết. Ông lẩm nhẩm sắp xếp lại ý tứ trong đầu:

“Anh thích chồi thật xanh

Và hoàng hôn giáng đỏ

Con đường làng nho nhỏ

Hun hút vào chân mây…

(Ờ… ờ…) Cánh đồng quê bối rối

Con đường quê ngập ngừng

Hương quê thơm phập phồng

Em dịu dàng, e ấp…

Bỗng, từ một mái nhà lúp xúp ven đường vẳng ra tiếng đàn bà gọi giật giọng: Chó ơi, Chó ơi… ời! Ông ngớ người nhận ra họ gọi mình. Chút tủi thân, tủi phận chợt bật lên làm mắt ông nhòe đi…

… Ông bồi hồi nhớ về một ngày ở thời buôn chó… Ngày ấy, ú ớ gặp hên. Mới nửa buổi ông đã mua được một xe chó đầy. Về đến nhà thì vợ đi trả hàng, con đi học… Ông lôi giấy bút ra viết. Dòng cảm hứng dâng trào. Những con chữ thân quen bừng bừng rạo rực nở rộ trên mặt giấy. Ông cố ngoáy tay thật nhanh cho kịp, cho hết những ý nghĩ vùn vụt xuất hiện trong đầu. Ông cắm cúi viết, miệt mài viết cho đến khi chợt nhận ra vợ và đứa con gái đầu lòng đang ôm nhau thút thít khóc ở góc phòng. Ông thẫn thờ rời bút, hoang mang đến với họ. Mấy năm này gia đình ông đã ở thế ổn định. Khó khăn và nỗi buồn nào vào nhà mà ông không biết? Gạn hỏi ông mới biết, thì ra thấy ông đói viết, ngấu nghiến viết như thằng đói lâu năm vớ được bữa ăn ngon, bà thương bà khóc. Bà nói: Trong người có tơ thì phải nhả, nhưng chớ động tới ai. Viết xong không được mang in mà phải nộp để bà lưu giữ.

- Vâng! Tôi viết thì ai người ta in mà bà lo. Bà giữ cho tôi là tốt rồi.

Ông kéo đứa con gái vào lòng, xoa đầu an ủi nó. Nó ngước mắt nhìn ông nói trong nghẹn ngào:

- Bố ơi! Bố đừng viết nữa, con sợ lắm.

Lời nói trẻ thơ như cật nứa cắt lòng ông. Ông ứa nước mắt tự nói với lòng mình: “Bố hiểu rồi. Con đừng lo. Ngày ra tù là bố biết ngay: Một ngày ngoài ngàn thu ở thù. Khi ở trại làm y sinh, chưa được lên voi, chỉ ở mức lên chó thôi, đi tới đâu, gặp ai bố cũng được “đồng nghiệp” tay bắt mặt mừng, chuyện trò, động viên, chia sẻ… Ngày ra tù, về nhà con thấy đấy. Nhà mình vẫn hoang lạnh như nấm mồ hoang. Bạn bè thân thiết, hàng xóm láng giềng có ma nào đến sẻ chia với mình đâu. Thậm chí ra ngoài đường có người chẳng may gặp bố, họ còn kéo mũ che mặt lảng đi. Bố hiểu rồi, nỗi nhọc nhằn, cực khổ của bố trong những năm ở trại sẽ chẳng là gì so với nỗi nhọc nhằn, tủi hổ của mẹ và các con phải gánh chịu hàng ngày”. Một ngày ngoài ngàn thu ở tù. Bố ơi! Bố đừng viết nữa con sợ lắm. Thảo nào thi sĩ Phúc, văn sĩ Lam cứ phải viết chui, viết lủi. Mỗi lần viết cứ phải lén lút như tội phạm. Những câu thơ hay, những áng văn hay thẫm đẫm tình người – tình vật phải chịu chung số phận đớn đau nơi gầm giường, nóc bếp, đống rơm, chuồng lợn… Ông nghiêm túc nói với con:

- Bác Trần vừa tề gia nội trợ - nữ công gia chánh để bác gái bán hàng vừa viết truyện. Ông Trương vừa bới rác nhặt rau nuôi lợn vừa viết kịch. Bác Phùng vừa cắt tóc vừa làm thơ. Bác Loan vừa câu cá vừa vẽ… Chẳng lẽ bố lại không vừa làm lái chó vừa viết văn được sao? Không đọc không viết bố thấy tiếc thời gian lắm, tủi mình và chưa xứng với mẹ, với các con. Vả lại, không viết nữa tức là bố công nhận mình sai, phải đi tù là đúng.

Đứa con gái ngừng khóc, mặt nó đanh lại, biểu lộ sự sẻ chia nỗi đau với người cha. Nhìn mặt con, ông giật mình chợt nhận ra, trên gương mặt nó, có những nét gì phảng phất nét mặt Việt Vương – Câu Tiễn trong những năm nhẫn nhục. Lòng ông the thắt thương con và lo sợ cái gì lạ lắm đang ẩn giấu trong mắt nó. Ông thủ thỉ nói với con và cũng như nói với lòng mình:

- Con ơi! Oán hờn mà trả bằng oán hờn thì oán hờn ngày càng chồng chất. Con người hơn con vật ở chỗ đối xử với nhau có nghĩa có nhân. Lớn lên rồi con sẽ hiểu, không phải ngẫu nhiên mà Thánh Găng Đi nói: “Tôi không bao giờ tự hạ thấp mình ngang tầm của bạo lực.” Cái gì đã qua bố con mình cùng cho qua con nhé! Chớ để bụng, đừng thù oán ai cả… Càng đớn đau mình phải sống càng nhân hậu, con có hiểu không?

Lẽ ra ông có thể yên tâm sống trên cõi đời này với vị thế của ông lái chó kiêm văn sĩ, nếu không có một ngày…Ông khẽ lắc đầu… Ngày đó, ông mang chó về giao cho cửa hàng thịt chó Quang Vinh. Người ta rọ mõm con chó lại rồi treo ngược lên cành cây. Hai hàng dãi chó nhễu ra. Trong ánh mắt hoảng loạn của nó, ông nhìn thấy những tia oán hờn, trách móc, nhẫn nhục, xót xa… Người đồ tể xía một đường dao sắc lẹm. Một tia máu phọt ra đỏ hồng ấm như máu người. Con chó oằn mình giẫy giụa trong không gian. Càng giẫy máu càng phọt mạnh. Thế là xong! Một số kiếp nhỏ nhoi, yếm thế trước sức mạnh dửng dưng đến lạnh lùng của bạo tàn. Ông rùng mình, ân hận, xót xa… Thương cho một kiếp chó vốn rất tận tụy, trung thành với con người. Và từ đó ông bỏ việc…

 

Cứ thế, ông ngồi chết lặng rồi lại mỉm cười mơ hồ nhớ tới chuỗi năm tháng đổi nghề như thay áo. Những ngày ra ngoại thành để đóng gạch thuê. Nhớ một trưa hè nắng như đổ lửa. Đang nhào đất thì bỗng ngứa ran khắp lưng. Chân tay dính đầy bùn đất không làm sao mà gãi được. Chợt nhìn thấy con trâu đang cọ mình dưới gốc đa, thế là ông chạy ngay vào chiếm một chỗ. Bắt chước trâu, ông cọ mạnh tấm lưng trần vào gốc cây sần sùi. Cọ đến đâu sướng run đến đấy. Đang sướng, bỗng ông giật mình nghe thấy tiếng khóc nức nở như từ trên trời rơi xuống. Ngửa mặt lên nhìn thì… Ối giời ơi! Đó là cô đào Bích – nghệ sĩ Bích Đào lừng danh. Bích Đào nói trong tiếng nấc:

- Ngứa mà cũng không biết đường gãi gọn được như trâu… Em không thể ngờ đời anh lại có đận khốn nạn thế này… Về! Về ngay! Em sẽ kiếm cho anh nghề khác.

Ông lại lắc đầu cười, nhớ về những ngày sau đó nặn từng con lợn đất đem bán. Đúng là tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa. Người ta có nhiều mối giao hàng. Làm đến đâu có người đến tận nơi lấy hết tới đó. Hơn nữa, họ lại có vốn. Lợn đất của họ, phơi khô xong được đưa vào lò nung qua cho rắn, rồi lại còn được phết một lớp sơn đỏ rực màu. Đằng này lợn đất ông làm tiền đâu mà thuê nung. Đành chỉ phơi khô rồi quét qua một lớp vôi hồng trông cứ nhờn nhợt dài dại. Làm xong không có mối giao. Đành gánh hàng ra chợ bán lẻ. Mua vé vào chợ thì lãi có ngày chẳng đủ tiền vé. Bán ngoài cổng chợ thì công an, quản lý chợ bắt hàng. Gánh rao dọc phố thì tiếng rao đuối hơi, lạc chìm giữa dòng đời ồn ã… Gánh ra ngoại thành thì bán được nhúc nhắc nhưng nhiều lúc gặp mưa giữa đường, giữa đồng thấy cũng nản lòng. Có lần ông đã chịu ướt, dành tấm ni lông che lên miệng thúng mà những cơn gió cứ tớn lên, giật mạnh tấm ni lông để xối những hạt mưa vào những con lợn đất… Mươi phút sau, cả vốn lẫn lãi của ông đã trở thành bùn đất… Ông lắc đầu mủm mỉm cười: rõ đúng, tình thương vô ý gây nên tội. Ông lại bắt đầu những tháng ngày đi tìm việc. Ông nhẩm tính trên ngón tay. Phải mượn thêm cả những ngón chân. Mác-xim Gooc-ky thời lưu lạc trải qua bao nhiêu nghề nhỉ? Ơn giời, cuối cùng ông cũng neo đậu được cuộc đời bằng nghề mộc. Tai ông lại vang lên tiếng gọi: Ê… mộc! Ê… mộc! Tiếng gọi tuy xấc xược nhưng sau nó vẫn là cơm ăn, áo mặc, là tiền bạc, là cuộc sống của gia đình. Ông vẫn hồi hợp chờ mong tiếng gọi như trước đây từng mong thiên hạ gọi chó ơi! Chó ơi! Mấy chục năm gắn bó với nghề mộc cũng mang đến cho ông nhiều buồn vui đáng nhớ. Đoạn đời này nếu viết ra cũng được tập sách dầy cỡ dăm trăm trang chứ ít ỏi gì! Mà nhất định sẽ không tầm tầm, nhàn nhạt. Viết sách về cuộc đời mình ư? Tướng tá, chính khách gì mà hồi ký. Jiu-cốp đâu mà “nhớ lại và suy nghĩ”. Phải, mình sẽ viết lại những kỷ niệm buồn vui của một đời oan trái phải học tập, phải rèn luyện thế nào để giữ được tính người trong một hoàn cảnh trớ trêu, hoang dại. Hơn 40 năm sống trong oan sai mà giúp vợ nuôi 4 con ăn học nên người, viết được dăm chục tác phẩm các loại. Đời người thế kể cũng chẳng đến nỗi nào. Thân phận cỏ cây như thế phải đâu là bèo bọt. Có cây còn nuôi được trâu bò, chó đẻ còn chữa được ỉa chảy, nhọ nồi còn cầm máu hay hạ được cơn sốt… Cỏ cây như thế còn trăm lần hơn, vạn lần gấp những tên tuổi lẫy lừng mà độc hại. Phải, mình sẽ viết lại cuộc đời mình để sẻ chia với bè bạn, người thân. Biết đâu sau này, ai đó ngồi thăm thẳm trên ghế cao quyền lực, đọc cuốn truyện này sẽ phải ngập ngừng nghĩ suy trước khi thò tay ký một quyết định liên quan đến thân phận một con người, dù đó là thân phận con sâu cái kiến.

Cõi trời chỉ có cỏ hoa

Cõi người – nếu có, chỉ là chữ NHÂN.

Nghĩ tới đây, dòng cảm xúc trong ông dâng lên dào dạt. Ông lập cập đeo kính rồi lập cập ngồi ngay ngắn trước màn hình, tay bật máy, tay rê rê con chuột. Rồi như có sức mạnh của quyền năng, các ngón tay ông bắt đầu múa nhanh trên bàn phím. Những con chữ hối hả chen nhau xuất hiện trên màn hình. Ông cứ gõ, gõ, tay như múa… Bỗng ông giật mình ngừng tay khi chợt nghe thấy tiếng nấc rất quen thân của vợ. Tiếng nấc của một thời tưởng đã là ngày xửa ngày xưa, không bao giờ trở lại.

- Ông!... Ông viết cái gì thế này? Sao lại bắt đầu bằng ngày ông bị đi tù, hở giời!

- Tôi viết lại những kỷ niệm buồn vui của đời mình ấy mà.

- Ông dừng ngay, dừng ngay không được viết nữa! Tôi lạy ông, xin ông đấy. Bới lại những cái đó làm gì. Phế thải hạt nhân đã chôn rồi thì không được bới, nguy hiểm lắm, ông a...à…ạ!...

- Bà yên tâm. Bây giờ đổi mới rồi. Con người đối xử với nhau nhân văn hơn trước nhiều rồi. Mà bà còn lạ gì tôi, nào có biết hận thù, căm uất ai đâu mà bà phải lo, phải sợ. Họ đánh mình đau quá thì mình rên. Rên cho nó đỡ đau, bà ạ! Con người ai chẳng có quyền được Rên.

- Sắp xuống lỗ rồi mà ông còn thơ ngây thế? Ông tưởng Rên là tội nhẹ lắm ư?  Các ông ngày xưa ngợi ca – hát ông ổng còn bị kẻ độc miệng cho mang vạ. Giờ lại đòi Rên. Quyền được Rên! Ơ hơ…quyền được Rên! Ngớ ngẩn, ngớ ngẩn hết chỗ nói…

Nghe vợ mắng, ông buông tay sững sờ… ờ… ờ… Bà ấy nói… Bà ấy nói… Ông đưa mắt nhìn ra ngoài trời… Mưa! Mưa! Mưa vẫn xối xả. Trong làn mưa mù mịt ông lại thấy quản giáo Quang lừ lừ đi vào, tay vẫy vẫy, miệng làu bàu mà như ra lệnh cho ông: Hồ hởi, phấn khởi nhé! Hồ hởi, phấn khởi nhé!.

Một làn gió lạnh thổi thốc vào nhà. Ông rùng mình, tê buốt.

 

                      Cao ốc N5A, Trung Hòa- Nhân Chính, 5/2007

                                                                       Lê Mai

 

 

 

Lê Mai (Phải)

 

 

Ähnliches Foto

 

NGÀY VÔ VI


 
         Truyện ngắn Lê Mai

 

         Quái lạ, mấy ngày nay sắp đến 20 tháng 11 rồi mà chẳng thấy thằng con nhắc nhở việc chuẩn bị phong bì đến thăm thày cô, cũng chẳng thấy nó đòi tiền nộp cho ban phụ huynh học sinh của lớp. Trên đường đèo con đi học tôi phân vân về điều này mãi.
         Đường phố hôm nay không bị ùn tắc. Mọi phương tiện giao thông lưu thông êm ả trên đường, không ồn ào, không bụi bặm, không tiếng còi xe ầm ĩ… lại không có cả chiếc xe cảnh sát rà rà chầm chậm đi sát lề đường, chốc chốc các chiến sĩ cảnh sát lại tung mình ào xuống mặt đường giành giật quanh gánh cùng các bà, các cô bán rau, bán ổi… Thế mà, vỉa hè rất thông thoáng, sạch sẽ chỉ dành riêng cho người đi bộ. Đường đúng là đường, vỉa hè đúng là vỉa hè, không nhập nhằng, lẫn lộn.


         Chỉ mươi phút tôi đã dừng xe trước cổng trường con học, giảm được 2 phần 3 thời gian. Đây là lần đầu tiên trong đời xe máy của tôi đi nhanh hơn người đi bộ. Sao thế này? Sao cổng trưởng không có tầng tầng lớp lớp xe máy, cái quay dọc, cái quay ngang rì rì phạch phạch… Muộn học chăng? Tôi lo lắng đẩy xe vào trường. Không! Không muộn. Sao hôm nay sân trường sạch thế? Rác rưởi, bụi bặm đâu hết cả rồi? Những cô giáo duyên dáng trong bộ áo dài dân tộc ân cần, niềm nở với phụ huynh, dịu dàng âu yếm với học sinh… Thế thì đúng “cô giáo là mẹ hiền” rồi còn gì nữa!  Những cô cậu học trò mặt mũi sáng sủa thông minh, gọn gàng trong bộ đồng phục không đá vút những quả cầu, quả bóng vào mặt khách, không chạy đuổi đâm sầm vào người lạ… Thấy lạ, tôi quay sang hỏi bác bảo vệ:
         - Thưa bác! Hôm nay trường ta đón đoàn kiểm tra nào vậy? của Sở hay của Bộ?
         - Không! Có đoàn kiểm tra kiểm triếc nào đâu!
         Nghe bác trả lời, tôi giật mình. Thế thì trường đúng là trường, lớp đúng là lớp, thày đúng là thày, trò đúng là trò rồi còn gì. Thôi chết rồi! Mải vui với sự lạ, quên béng mất thời gian, giờ nhìn đồng hồ mới biết: nếu đường thông hè thoáng như hôm nay, phóng nhanh đến cơ quan tôi cũng muộn làm đến 5 phút. Tôi ngây người nghĩ tới việc chỉ mươi phút nữa thôi, mình sẽ bị giám đốc chan tương hắt mẻ vào mặt. Ông giám đốc cơ quan tôi nóng tính cực kỳ. Ai đi làm muộn thì… May mà chúng tôi nhẫn nhục quen rồi. Cất xe xong, tôi đi như chạy vào phòng làm việc. Như mọi lần, giám đốc kia rồi… Tôi cúi đầu bước chậm, chuẩn bị chịu trận…
         - Thưa giám đốc, tôi xin lỗi, hôm nay tôi muộn làm 5 phút – Tôi lí nhí.
         - Xe hỏng hay tắc đường? - Ông nhỏ nhẹ hỏi tôi.
         - Dạ không, xe tốt, đường thông thoáng.
         Trả lời xong, tôi khẽ nghiến răng sẵn sàng chịu đựng trận cuồng phong bão tố. Da mặt tôi lúc này đã dày lên, lì ra sẵn sàng chống đỡ.
         - Rút kinh nghiệm nhé. Thôi về chỗ làm việc đi – Giọng ông nhẹ như tâm sự với người tình.
         Tôi thở hắt ra. Gân cơ toàn thân từ từ giãn, nhẹ nhõm. Tôi ngơ ngác nhìn ông rồi buột miệng nói:
         - Thủ trưởng còn chưa mắng chửi em cơ mà. Mọi hôm tính thủ trưởng nóng như lửa… Hay hôm nay vô tuyến truyền hình đến cơ quan ta quay chuyên mục “Chuyện lạ Việt Nam”?
         Giám đốc cười xòa, vỗ vỗ vai tôi rồi thân mật nói:
         - Các cậu cứ coi tôi là người nóng tính nên tôi đâm ra cũng nghĩ như vậy, nhưng… hóa ra không phải. Người nóng tính là người phải nổi xung với bất cứ ai, chứ mình thì… chỉ nổi xung với cấp dưới, chưa lần nào dám nổi nóng với cấp trên. Thì ra, văn hóa lãnh đạo ở mình quá thấp, chẳng nhận ra quan hệ giữa chúng mình chỉ là quan hệ giữa cấp trên với cấp dưới, giữa đồng nghiệp với nhau trong tình người ấm áp, mà cứ tưởng là quan hệ bố con. Thôi cho mình “tổng xin lỗi” những sỉ vả trước nhé.
         Những lời nói chân tình của ông có tác dụng như liều Viagra cực mạnh làm tôi rất phấn khích. Tôi lao về phòng làm việc, hùng hục làm. Làm để đáp nghĩa, để tri ân người thủ trưởng đầy nhân tính. Tôi đang say sưa làm việc với hiệu quả và chất luợng rất cao thì… Bỗng, có lệnh lên gặp giám đốc. Tôi tái mặt, lo lắng. Hay là bây giờ ông ấy mới lên cơn cho gọi tôi lên để trút giận. Trong phòng giám đốc đã có trưởng phòng hành chính tổng hợp đang ngồi co ro như chú cún con ở góc phòng. Tôi run run bước vào thì giám đốc nói ngay:
         - Gia đình cậu Tuấn bảo vệ vừa đến báo, cậu Tuấn vừa đi cấp cứu ở bệnh viện Vinh Quang. Hai cậu đến ngay xem gia đình, bệnh viện cần gì ta giúp. Hết bao nhiêu tiền cũng chi. Con người là vốn quí nhất. Tôi lên phòng họp, cho dừng cuộc họp lãnh đạo cơ quan xong là tôi cũng đến ngay viện đấy!
         - Cậu Tuấn là bảo vệ, có phải là giám đốc đâu mà đòi hưởng tiêu chuẩn đặc biệt. – Tôi nói.
         - Cậu lạc hậu quá! Bảo vệ hay giám đốc cũng đều là con người, đều đòi hỏi phải được đối xử bình đẳng, dân chủ. Chức trách khác nhau chẳng qua là do Đảng và Nhà nước phân công thôi. Thôi, đi đi!
         Tôi và trưởng phòng hành chính tổng hợp phi vù vù tới viện. Trong phòng cấp cứu, Tuấn đang nằm thiêm thiếp trên giường bệnh. Xúm quanh anh rất nhiều bác sĩ. Người đang lắng mình nghe tim phổi, người đang đo huyết áp, người đang chăm chú dõi theo nhịp tâm đồ, người nắm chân, bóp tay, người xoa trán… Chẳng bù cho tôi, mấy ngày trước cũng nằm trong phòng cấp cứu này, nằm suốt buổi chẳng thấy ma nào đến hỏi. Đến mức, chỉ thoáng thấy bóng áo trắng, áo xanh là tôi phải cố hết sức rên hòng thu hút tình thương hại. Nhưng họ điếc. Điếc tất. Sau gia đình tôi phải dùng phong bì mới chữa được điếc cho họ… Nhờ sự tận tâm của tập thể bác sĩ, mươi phút sau Tuấn hồi tỉnh. Ông bác sĩ (có lẽ là trưởng nhóm) ân cần nói với chúng tôi và gia đình.
         - Gia đình yên tâm, anh ấy không sao đâu. Để chúng tôi theo dõi thêm một chút thời gian nữa cho chắc chắn rồi cho về. Mai đi làm bình thường.
         Lời nói ân cần của bác sĩ nghe sướng đến tận tim. Theo kinh nghiệm, tôi nháy mắt ra hiệu với trưởng phòng hành chính tổng hợp. Ông ý tứ xích lại gần bác sĩ và tế nhị đút chiếc phong bì vào túi áo blu. Phải công nhận người thiết kế cái túi áo blu là người cực giỏi, miệng túi ở tư thế nào cũng ngoác rộng, sẵn sàng nuốt gọn phong bì. Ông bác sĩ nhíu mày, thò tay vào túi áo lấy chiếc phong bì giơ lên cao, ông phật ý nói:
         - Bác làm gì thế này. Bác coi chúng tôi là loại người gì?
         Giữa thanh thiên bạch nhật mọi người ngước nhìn theo chiếc phong bì cồm cộp dầy. Trưởng phòng hành chính tổng hợp cơ quan tôi đỏ lựng mặt, thẹn thùng. Nhìn ông, lần đầu tiên trong đời tôi hiểu được hình tượng “dê già e thẹn”! Trưởng phòng lúng túng thanh minh:
         - Có cốc nước chúng tôi thành tâm mời các bác sĩ… Có gì to tát đâu mà bác sĩ phải ngại.
         Ông bác sĩ vẫn nghiêm giọng nói:
         - Bác có biết như thế là bác sỉ nhục chúng tôi không? Bác hãy nhìn xem…
         Ông chỉ ngón tay lên phần cao của bức tường trước mặt. Chúng tôi ngước mắt nhìn theo. Trên đó lấp lánh dòng chữ đỏ: “Lương y như từ mẫu”. Ông chỉ ngón tay lệch sang bên phải, thấp hơn một chút, ở đó trang trọng treo một tấm biển trắng chói lòa dòng chữ đỏ: “Lời thề HYPOCRAT…” Lòng chúng tôi ấp áp! Mắt chúng tôi tin yêu!
         Bỗng… choang một cái. Không phải sét mà như sét! Tôi giật mình choàng dậy… Thì ra, đó là một giấc mơ! Giấc mơ đẹp, mà sao mồ hôi tôi lại toát ra như tắm!

        
LÊ MAI

 

 

 

 

Nhà Văn Lê mai (Phải)

 

Ähnliches Foto

 

CÚN KHÓC

 

Bạn tôi kể:

Bỗng… một hôm, nhà anh xuất hiện rất nhiều chuột. Chuột đủ loại: Chuột Cống – Chuột Đồng – Chuột Chù – Chuột Nhắt… Chúng quá thể lắm, chẳng coi ai ra gì. Chúng chạy nhảy tùy tiện, tớn tở nô đùa, rúc rích tán tỉnh… Chúng mở vung nồi cơm, chúng hất nắp thùng gạo, chúng xô đổ chai lọ, chúng gặm nát giấy tờ… Nhiều con còn tò mò, vô giáo dục ngó nghiêng tận giường ngủ vợ chồng anh. Tớn lên, chúng còn cắn cả ngón chân, ngón tay đau buốt. 

Không chịu được, vợ anh ra chợ mua ngay những tấm keo dính chuột. Người bán hàng dặn: lối nào chuột hay đi thì đặt tấm keo dính vào đấy. Vợ anh rải khắp nhà: cạnh nồi cơm, thùng gạo; dưới gầm giường, gầm tủ; trên nóc bếp, xà nhà… Nhưng… keo chỉ dính được tay vợ, chân con và áo quần của khách. Keo dính chuột thành keo dính người. Chuột vẫn chạy vẫn phá. Vợ anh hậm hực đi mua bẫy. Bẫy cũng giăng khắp nhà. Vợ chồng anh nằm giường căng tai dõi nghe tiếng bẫy sập. Nhưng… bẫy chỉ sập được ngón tay của con, chuột vẫn chạy vẫn phá. Quá tức, vợ anh dùng biện pháp sinh tử: đánh bả! Những ống thuốc diệt chuột mang nhãn MADE IN CHINA được mua về, trộn đều, dầm thẫm những miếng thịt thơm nức. Nhưng…  chẳng diệt được con nào, vì chuột nhà anh giở ngón ăn chay. Linh hoạt, vợ anh trộn thuốc với những món chay. Nhưng cũng chẳng diệt được con nào vì chúng lại đồng loạt chuyển sang ăn mặn. Vợ anh ngửa mặt than: chịu! Vợ chịu thì anh ra tay. Anh dùng sức mạnh tổng hợp. Anh trộn đều thuốc với cả món mặn lẫn món chay rồi giăng bẫy theo binh pháp Tôn Tử. Anh giăng bẫy khắp nơi theo kế “Hoa nở trên cành”. Cẩn thận hơn, mỗi nơi đặt mồi anh đặt món chay xen món mặn theo kế sách “Bỏ mận lấy đào”. Kế sách của anh thành công đến mức ngoài dự tính. Chuột chết hàng loạt. Con chết trong nồi cơm. Con ngoẻo trong bể nước. Con tử trong túi áo. Con tỏi dưới gầm giường. Vợ chồng con cái anh lổm nhổm bò khắp nhà thu lượm xác chuột. Nhưng chỉ hôm sau hơi thối đã tràn ngập ngôi nhà. Mùi thối ngày càng nặng, khó chịu, khó thở hơn cả tiếng chuột kêu, chuột phá. Anh ngửa mặt than: đúng là vinh quang cay đắng! Thế mà cũng chỉ bình yên được một tuần. Rồi thì lại chuột từ dưới cống đùn lên, lại chuột từ hàng xóm kéo đến. Vợ anh lo lắng, kéo anh ra một chỗ kín đáo quan sát cảnh chuột nhà anh ăn mật. Chai mật ong chỉ còn hơn nửa, miệng chai nhỏ, có tài thánh cũng không rúc đầu vào nổi. Thế mà, chẳng hiểu nó học được kinh nghiệm từ lớp tập huấn nào mà loáng một cái, nó đã thò được đuôi vào chai ngoáy mật, rồi ra một chỗ ngồi, vểnh đuôi lên, ung dung liếm mật. Vợ anh không nói, lo lắng kéo anh ra một chỗ kín đáo quan sát ổ trứng gà. Quả trứng to. Con chuột nhỏ. Anh cười, nói với vợ: lần này thì thách kẹo. Con chuột chẳng nói gì, lặng lẽ giang rộng bốn chân ôm quả trứng, rồi bất ngờ lăn đùng lăn ngửa ra đất. Quả trứng nằm gọn trong lòng. Những con chuột khác xà vào cắn đuôi nó kéo đi. Khoa học – công nghệ hết mức. Anh lác mắt bảo vợ: con này bét cũng tiến sĩ. Vợ anh lo lắng hỏi: Anh thấy không, có tận mắt chứng kiến những cảnh này mới biết mình bất lực. Hết cách. Anh tủng tẳng nói: Hết là thế nào! Dùng công nghệ sinh học. Mày dùng mẹo sâu thì ông có công nghệ cao. Vợ anh hỏi, anh bảo: nuôi chó, nuôi rắn mà diệt chuột chứ còn thế nào. Nghe anh nói, vợ anh thở phào, nhẹ nhõm, buột miệng khen: Giỏi, giỏi lắm! Lần đầu tiên em thấy cái sự học của anh là có ích. Chứ cứ viết vớ viết vẩn lợi đâu chẳng thấy, có ngày mang vạ vào thân. Để em đi chợ xách con mèo về nuôi, anh nhé. Anh nổi cáu vô cớ, gắt: Không nuôi mèo. Năm thì mười họa mới vồ được con chuột nhắt mà cứ ra vẻ ta đây, quăng con mồi chỗ này, quẳng con mồi chỗ kia, dền dền dứ dứ… sốt ruột. Gặp con chuột to, chuốt cống thì lỉnh. Lại còn lươn lẹo, thông đồng cả với lũ chuột mới kinh. Chẳng phải ngẫu nhiên mà đồng dao có câu:  
 

Con mèo mà trèo cây cau 

Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà 

Chú chuột đi chợ đồng xa 

Mua mắm mua muối giỗ cha chú mèo. 

Đã thế lại còn lúc nào cũng như đoan trang, dịu dàng, hiền thục. Đến ngày động đực mới lòi mặt thật ra. Đêm đêm anh ả lồng lộn ngao ngao trên mái nhà, chẳng còn kín đáo, tế nhị. Mua con chó mà nuôi. Vợ anh vặc lại: Chó... chó... chó em không nuôi. Anh còn nhớ con Milu, Mila nhà ông Dũng không? Mồm cứ xoen xoét chó nhà anh khôn lắm, chỉ cắn trộm không cắn khách. Mình tưởng thật… nào ngờ… nó tợp cho một nhát. Thế là phấp phỏng lo âu cả tháng trời. Ngày nào cũng phải lọ mọ đạp xe đến nhà ông ấy thăm hỏi sức khỏe con chó. Cứ nghĩ đến là kinh đến già. Anh ôn tồn nói: Cứ như em thì nhà mình chỉ còn nước nuôi rắn. Thôi, nghe anh, cứ mua lấy con chó. Nhớ đừng mua giống Tây Tàu – Âu Á gì cả. Cứ mua con chó ta, anh mang tiêm phòng dại là xong. Chó nó thật thà, được việc. 

Quả đúng. Từ ngày nhà nuôi chó, chuột nhà anh biệt tích. Con chó suốt ngày lùng sục, săn bắt chuột. Nó bắt chuột cũng nhiều nhưng cũng có phần là do sợ vía nó mà chuột dạt hết sang nhà hàng xóm. Vợ chồng con cái anh mừng lắm. Vợ anh bảo: nó xứng đáng có một cái tên. Anh gật đầu bảo: Phải! Vợ anh lại nói: là Giôn, là Nic hay Milu, Mila… Anh nhăn mặt bảo: Em chỉ sính ngoại. Vợ anh cãi: Ngoài xã hội cái gì chẳng mang tên ngoại. Các siêu thị, nhà hàng, trung tâm, khách sạn… có cái nào mang tên ta không? Thời buổi kinh tế thị trường, giao lưu toàn cầu cái tên cũng phải tây tây một tý mới sang, mới đảm bảo tính hiện đại. Anh đuối lý, nói yếu ớt: Phải… phải. Để anh tính. Là Giôn, là Nic… không được. Xóa bỏ hận thù, hướng tới tương lai cơ mà. Đặt tên nó là Bíp em ạ. Bíp chứ không phải là Bin. Bíp… Bíp... nghe dân tộc mà hiện đại, lại giữ vững lập trường. Vợ anh cười tít mắt, buột miệng khen: Tên hay, tên hay, kín mọi nhẽ. Đúng là có học có hơn. Anh sướng âm ỉ. Và, con chó có lẽ cũng hài lòng với cái tên chủ đặt. Nhưng rồi… có sự cố. Ra đường, nó cứ cắm đầu mải miết chạy theo ô tô. Hóa ra đường phố loạn xạ tiếng còi xe: bíp bíp… bíp… Anh lo lắng bảo vợ: có lẽ phải đổi tên cho nó ngay. Đà này, không khéo nó bị tai nạn ôtô, xe máy ngay trong tháng an toàn giao thông này chứ chẳng chơi. Vợ anh gật đầu xác nhận: Anh nói phải. Lần này anh đừng Tây Tàu gì nữa, cứ thuần Việt mà đặt. Ông ra ông – thằng ra thằng đừng nửa dơi nửa chuột. Anh bảo: Em nói đúng. Vàng, Mực, Vện, Đốm… thuần Việt cả đấy nhưng nghe quê quá. Lớ xớ còn bị hiểu lầm. Anh đặt cho nó là Cún. Cún có được không em? Cún! Nghe vừa thuần Việt, thuần chủng vừa tình cảm. Vợ anh buột miệng khen: tên hay, được lắm. Không như cái tên Bíp. Chẳng biết có bíp được ai không, hay chỉ bíp chính mình. Cún! Giỏi lắm. Các cụ mình từ ngàn xưa thường vẫn gọi cháu chắt yêu dấu của mình là Cún con anh nhỉ. Cún. Hay, hay tuyệt. Vừa tình cảm vừa truyền thống. Anh vui với niềm vui của vợ. Cún mừng với niềm vui của chủ. 

Tháng năm vùn vụt trôi… Đến một ngày như bao ngày khác, anh đang ngồi đọc báo với chú Cún dịu dàng cuộn dưới chân. Bỗng, Cún bật mình nhỏm dậy, mồm gầm gừ tức giận, mắt vằn những tia uất hận mà bất lực. Sao thế nhỉ? Mọi lần nó lao như tên bắn, mềm mại dũng mãnh như cọp beo. Anh ngước mắt nhìn theo ánh nhìn của Cún. Thì ra, trên xà nhà, nóc nhà có tới bốn năm con chuột đang khả ố trêu ngươi nó. Anh chợt hiểu. Xoa đầu Cún sẻ chia mà anh như thầm thĩ cả với lòng mình: chuột nó leo cao đến thế này thì… chẳng phải chỉ mày mà ngay cả tao cũng bất lực. Trời không chịu đất thì đất phải chịu trời thôi Cún. Không làm gì được chúng nó đâu. Đành làm ngơ mà sống chung với chuột. Chuột dạo này nó leo cao quá, Cún ơi! 

Cún lắc đầu, xoay người nằm nghiêng, hết nhìn anh lại nhìn lũ chuột nghênh nghênh diễu hành trên xà nhà, nóc nhà. Có con còn khả ố đái một bãi xuống nền nhà vừa lau sạch bóng. Nếu có cánh, khéo chúng còn bay kín trời giỡn mặt anh và Cún cho mà xem. Những lời động viên chân thành của anh không làm Cún vui lên được. Mắt nó ươn ướt, khẽ rên ư ử. Hình như Cún… khóc!

 

                                                                                Lê Mai