ĐƯỜNG THI – CHỦ ĐỀ BIÊN TÁI

(Kì 7)

 TS. Nguyễn Ngọc Kiên  chọn dịch và giới thiệu thơ

 

Số này chúng tôi tiếp tục giới thiệu một số bài TÁI THƯỢNG KHÚC và TÁI HẠ KHÚC của các tác giả Nhung Dục, Chu Phac, Lí Bạch, Đới Thúc Luân, Trương Trọng Tố…

 

NHUNG DỤC (TRUNG ĐƯỜNG)

Nhung Dục 戎昱 (Trung Đường) người Kinh Nam (nay thuộc Giang Lăng, Hồ Bắc, Trung Quốc), đỗ tiến sĩ. Khi Vệ Bá Ngọc giữ Kinh Nam, ông làm tòng sự. Năm Kiến Trung, ông làm thứ sử Thần, Kiền Châu. Thơ có 5 quyển, biên thành 1 quyển trong "Toàn Đường thi".

                          (Theo thivien.net)

 - 戎昱 




 

Phiên âm:

TÁI THƯỢNG KHÚC - NHUNG DỤC

Hồ phong lược địa thiêu Liên Sơn,
Toái Diệp cô thành vị hạ quan.
Sơn đầu phong tử thanh thanh khiếu,
Tri thị tướng quân dạ liệp hoàn.

 

Dịch nghĩa:

KHÚC HÁT NGOÀI BIÊN ẢI – NHUNG DỤC

Gió Hồ thổi vào đài phong hoả ở Liên Sơn
Thành Toái Diệp trơ vơ cửa chưa đóng
Tiếng ngọn lửa ở đài phong hoả đầu núi đang reo phần phật
Biết rằng đó là lúc tướng quân đi săn về

 

Dịch thơ:

KHÚC HÁT NGOÀI BIÊN ẢI – NHUNG DỤC

Gió Hồ thổi Liên Sơn phong đài

Toái Diệp thành trơ cửa chẳng cài

Phần phật lửa reo nơi đầu núi

Đi săn tướng đã về đấy thôi.

 

CHU PHÁC (VÃN ĐƯỜNG)

Chu Phác 周樸 (?-878) tự Kiến Tố 見素 (có nơi nói Thái Phác 太樸), người Ngô Hưng. Theo "Đường tài tử truyện", ông năm sinh không rõ, mất vào năm Càn Phù thứ 5 đời Đường Hy Tông (878). Ông chú trọng làm thơ, ẩn cư ở núi Tung Sơn, thường qua lại cùng với bạn thơ là sư Quán Hưu 貫休, không đoái hoài công danh. Sau ông lánh nạn tới Phúc Châu, ăn nhờ ở chùa núi Ô Thạch. Hoàng Sào chiếm đất Mân, muốn dùng ông. Ông trả lời: "Tôi là xử sĩ, không có con trai, có thể yên tâm theo giặc?", Sào sai giết đi.

        Thơ ông cực điêu trác, thời đó được gọi là "Nguyệt đoán niên liên"
月煅年鏈 (Tháng nung năm nấu), không được biên thành tập, chỉ truyền miệng. Sau khi ông mất, thơ của ông được sưu tầm trên trăm bài, biên thành 2 quyển truyền trên đời.

                                           (Theo thivien.net)


塞上曲 - 周朴
一陣風來一陣沙
有人行處沒人家
黃河九曲冰先合
紫塞三春不見花

Phiên âm:
TÁI THƯỢNG KHÚC – CHU PHÁC
Nhất trận phong lai nhất trận sa
Hữu nhân hành xứ, một nhân gia
Hoàng hà cửu khúc băng tiên hợp
Tử tái tam xuân bất kiến hoa

Chú thích: 1/ Hoàng hà cửu khúc, quan ải đóng trên thượng nguồn sông Hoàng hà, khi đó mới là chín con suối nhỏ. 2/ tử tái, quan ải đời Tần khởi xây bằng gạch màu tía, đời Đường vẫn giữ như vậy.


Dịch nghĩa:
KHÚC HÁT NGOÀI BIÊN TÁI – CHU PHÁC
Mỗi trận gió tới là một trận bão cát.
Chỉ có người tới [bổ sung quân số] quan ải chứ không có người được về nhà,
Chín khúc suối [thượng nguồn] sông Hoàng hà đã đóng băng,
Đã ba năm nay ở quan ải màu tía này chưa có hoa nở.

 

Dịch thơ:

KHÚC HÁT NGOÀI BIÊN TÁI – CHU PHÁC
Bão cát cùng mỗi trận phong ba

Người đi quan ải, chẳng về nhà

 Hoàng hà chín khúc băng đông đặc

Ải tía ba năm chẳng nở hoa.

 

- 周朴




 

Phiên âm:

TÁI HẠ KHÚC – CHU PHÁC

 

Thạch quốc Hồ nhi hướng thích đông,
Ái xuy hoành địch dẫn thu phong.
Dạ lai vân vũ giai phi tận,
Nguyệt chiếu bình sa vạn lý không.

 

Dịch nghĩa:

KHÚC HÁT NGOÀI BIÊN TÁI

Trai Hồ Thạch quốc hướng sang đông
Thổi sáo dẫn theo ngọn gió thu
Đêm đến mây mưa bay đi hết
Trăng soi sa mạc vạn dặm quạnh không.

 

Dịch thơ:

KHÚC HÁT NGOÀI BIÊN TÁI

 

 Trai Hồ Thạch quốc hướng sang đông
Thổi sáo gió thu dẫn theo cùng
Đêm đến mây mưa đều bay hết
Trăng soi sa mạc vạn dặm không

 

塞上曲  李白




 

Phiên âm:

TÁI THƯỢNG KHÚC KÌ I – LÍ BẠCH

Đại Hán vô trung sách,
Hung Nô phạm Vị Kiều.
Ngũ Nguyên thu thảo lục,
Hồ mã nhất hà kiêu.

 

Dịch nghĩa:

KHÚC HÁT NGOÀI BIÊN ẢI (KÌ I) – LÍ BẠCH

Nhà Đại Hán mưu chước không giỏi
Quân Hung Nô phạm đến Vị Kiều
Gò Ngũ Nguyên cỏ thu xanh
Ngựa rợ Hồ sao hung hăng quá thế.

 

Dịch nghĩa:

KHÚC HÁT NGOÀI BIÊN ẢI (KÌ I)

 

Đại Hán không mưu lược

Hung Nô chiếm Vị Kiều

Ngũ Nguyên cỏ thu biếc

Ngựa Hồ sao quá kiêu! 

 

ĐỚI THÚC LUÂN (TRUNG ĐƯỜNG)

Đới Thúc Luân 戴叔倫 (732-789) tên chữ là Ấn Công 幼公, người Giang Tô, làm quan đến Phủ Châu thứ sử.

                                 (Theo thivien.net)

 

 

寒上曲 二首其一 - 戴叔倫
漢家旌幟滿陰山
不遣胡兒匹馬還
愿得此身長報國
何須生入玉門關

TÁI THƯỢNG KHÚC KÌ I – ĐỚI THÚC LUÂN

Hán gia tinh xí mãn Âm sơn
Bất khiển Hồ nhi thất mã hoàn
Nguyện đắc thử thân trường báo quốc
Hà tu sinh nhập Ngọc Môn quan

Chú thích: 1/ Âm sơn, tên núi, nay ở trung bộ Nội Mông. 2/ Ngọc Môn quan, tên cửa ải trọng yếu trên đường buôn bán tơ lụa sang các nước phía tây nước Tàu, cố chỉ nay tại xã Sa châu, huyện Đôn Hoàng tỉnh Cam Túc. 2/ Hán, thi nhân đời Đường muốn viết về Đường, thường phải nói tránh sang Hán để được yên thân.

Dịch nghĩa:
KHÚC CA NGOÀI BIÊN ẢI (KÌ I) – ĐỚI THÚC LUÂN
Bài 1/2
Cờ xí nhà Hán cắm đầy trên núi Âm,
khiến không một con ngựa nào của người Hồ dám trở lại.
Nếu nguyện đem thân báo đền tổ quốc lâu dài,
thì [nơi đâu chẳng được] đâu cần cứ phải tới Ngọc Môn quan !

 

Dịch thơ:

KHÚC CA NGOÀI BIÊN ẢI (KÌ I)

Nhà Hán cờ xí rợp Âm Sơn

Ngựa Hồ muốn lại sợ hết hồn

Nếu thề đem thân mà báo quốc

Đâu cần phải tới ải Ngọc Môn!


TRƯƠNG TRỌNG TỐ (TRUNG ĐƯỜNG)

Trương Trọng Tố 張仲素 tự Hội Chi 繪之, người Hà Gian 河間, giữc hứcHàn lâm học sĩ đời Đường Hiến Tông.
                                         
(Theo thivien.net)

 

-   張仲素




 

Phiên âm:

TÁI HẠ KHÚC KÌ 1 – TRƯƠNG TRỌNG TỐ 

Tam thú Ngư Dương tái độ Liêu,
Tinh cung tại tí kiếm hoành yêu.
Hung Nô tự nhược tri danh tính,
Hưu bạng Âm Sơn cánh xạ điêu.

 

Dịch nghĩa:

KHÚC CA NGOÀI BIÊN ẢI (KÌ I) – TRƯƠNG TRỌNG TỐ

 

Ba lần đi trấn Ngư Dương, lại theo dòng sông Liêu mà đến,
Cưỡi ngựa lông đỏ, lưng đeo cung, ngang hông đeo kiếm đi tuần.
Giặc Hung Nô có lẽ đã nghe danh tiếng,
Nên chỉ nghỉ ngơi bên mạn bắc núi mà bắn chim điêu chơi.

 

Dịch thơ:

KHÚC CA NGOÀI BIÊN ẢI (KÌ I)

Tam trấn Ngư Dương xuôi dòng Liêu

Cưỡi ngựa hồng,  cung kiếm mang theo

Hung Nô dường đã nghe danh tiếng

Nghỉ mạn bắc núi bắn chim điêu.

 

  -   張仲素




 

Phiên âm: 

TÁI HẠ KHÚC KÌ  2 – TRƯƠNG TRỌNG TỐ

 

Liệp mã thiên hàng nhạn kỷ song,
Yên Nhiên sơn hạ bích du tràng.
Truyền thanh Mạc Bắc Thiền Vu phá,
Hoả chiếu tinh kỳ dạ Thụ Hàng.

 

 

Dịch nghĩa:

KHÚC HÁT NGOÀI BIÊN TÁI (KÌ 3) -  TRƯƠNG TRỌNG TỐ

Ngựa chiến vạn bầy nhạ có mấy hàng

Yên viên lưu chuyển bích du đây

Tin truyền Mạc Bắc Thiền Vu phá

Cờ xí chiếu sáng rực ban đêm ở Thụ Hàng.

 

 

 

Dịch thơ:

KHÚC HÁT NGOÀI BIÊN TÁI (KÌ 3) -  TRƯƠNG TRỌNG TỐ

Nhạn mấy đôi ngựa chiến vạn bầy 

Yên viên lưu chuyển bích du đây

Tin truyền Mạc Bắc Thiền Vu phá

Cờ xí rực đêm Thụ Hàng này.

 

 

-   張仲素




 Phiên âm:

TÁI HẠ KHÚC KÌ 3 – TRƯƠNG TRỌNG TỐ

Sóc tuyết phiêu phiêu khai Nhạn Môn,
Bình sa lịch loạn quyển bồng căn.
Công danh sỉ hử cầm sinh sổ,
Trực trảm Lâu Lan báo quốc ân.

 

Dịch thơ:

KHÚC HÁT NGOÀI BIÊN TÁI (KÌ 3) -  TRƯƠNG TRỌNG TỐ

Tuyết phương bắc rơi xuống ải Nhạn Môn tới tấp,
Cát trên đất bằng bay loạn xạ, cuốn phăng cả gốc cỏ bồng.
Nghĩ tới công danh mà xấu hổ vì bắt nhiều tù binh quá,
Từ nay sẽ chém thật nhiều giăc Lâu Lan để báo đền ơn nước.

 

Dịch nghĩa:

KHÚC HÁT NGOÀI BIÊN TÁI (KÌ 3)-  TRƯƠNG TRỌNG TỐ

Tuyết bắc rơi dày ải Ngọc Môn

Cát bay loạn xạ cuốn cỏ bồng

Công danh thẹn bắt nhiều binh tướng

Chém hết Lâu Lan để lập công

 

 

-   張仲素




西

 

TÁI HẠ KHÚC KÌ 4 – TRƯƠNG TRỌNG TỐ

Lũng thuỷ sàn viên Lũng thụ thu,
Chinh nhân đáo thử lệ song lưu.
Hương quan vạn lý vô nhân kiến,
Tây thú Hà nguyên tảo vãn hưu.

 

Dịch nghĩa:

KHÚC HÁT NGOÀI BIÊN TÁI (KÌ 4)-  TRƯƠNG TRỌNG TỐ

Ở đất Lũng này, sông chảy lừ đừ, cây cối đã vào thu,
Lính xa nhà ai đến đây cũng buồn rơi hai hàng lệ.
Quê hương xa vạn dặm không cách gì thấy được,
Trấn thủ phương tây đầy kênh rạch này không biết đến bao giờ!

 

 

 Dịch thơ:

KHÚC HÁT NGOÀI BIÊN TÁI (KÌ 4)-  TRƯƠNG TRỌNG TỐ

Đất Lũng sông chậm cây đã thu

Xa nhà lính chiến mắt lệ mờ

Quê hương vạn dặm bao xa cách

Trấn thủ phương Tây đến bao giờ.

 




 

Phiên âm:

TÁI HẠ KHÚC KÌ 5 – TRƯƠNG TRỌNG TỐ

Âm thích mang mang tái thảo phì,
Kết cao phong thượng mộ vân phi.
Giao hà bắc vọng thiên liên hải,
Tô Vũ tằng tương khí tiết quy.

 

Dịch nghĩa:

KHÚC CA NGOÀI BIÊN TÁI (KÌ 5) – TRƯƠNG TRỌNG TỐ

 Đất thảo nguyên mênh mông cỏ béo
Ngọn hoả phong gọi réo mây chiều
Sông Giao, vọng bắc trời liền với biển
Tô Vũ đã từng mang khí tiết về.

 

Dịch thơ:

KHÚC CA NGOÀI BIÊN TÁI – TRƯƠNG TRỌNG TỐ

 

Bát ngát thảo nguyên cỏ béo phì

Hỏa phong réo gọi mây chiều đi

Sông Giao vọng bắc trời liền biển

 

Tô Vũ từng mang khí tiết về.

ĐƯỜNG THI – CHỦ ĐỀ BIÊN TÁI

(Kì 5)

 TS. Nguyễn Ngọc Kiên  chọn dịch và giới thiệu thơ

Lí Bạch

塞下曲其四

塞下曲其四

白馬黃金塞,

雲砂繞夢思。

那堪愁苦節,

遠憶邊城兒。

螢飛秋窗滿,

月度霜閨遲。

摧殘梧桐葉,

蕭颯沙棠枝。

無時獨不見,

淚流空自知。

 

Phiên âm:

TÁI HẠ KHÚC KÌ 4 – Lí Bạch

Bạch mã Hoàng Kim tái,

Vân sa nhiễu mộng tư.

Na kham sầu khổ tiết,

Viễn ức biên thành nhi.

Huỳnh phi thu song mãn,

Nguyệt độ sương khuê trì.

Tồi tàn ngô đồng diệp,

Tiêu táp sa đường chi.

Vô thời độc bất kiến,

Lệ lưu không tự tri.

 

Dịch nghĩa:

 TÁI HẠ KHÚC KÌ 4

Ngựa trắng phi trên ải Hoàng Kim

Mây cát cuốn theo giấc mộng

Sá kể chi nỗi đau khổ

Xa nhớ trẻ ngoài biên cương

Mùa thu, đom đóm bay đầu cửa sổ

Sương lạnh, trăng chầm chậm qua buồng the

Lá ngô đồng tàn rụng

Cành sa đường xác xơ

Trông ngóng luôn nhưng nào có thấy

Một mình tuôn lệ âm thầm

 

Dịch thơ: 

KHÚC HÁT DƯỚI ẢI (KÌ 4) 

 Ngựa trắng phi Hoàng ải

Giấc mộng theo cát mây

Sá kể gì đau khổ

Nhớ trẻ biên ải này

Thu, đóm qua cửa sổ

Sương lạnh trăng qua đây

Lá ngô đồng tàn rụng

Cành sa đường lá bay

Trông ngóng nào có thấy

Một mình lệ tuôn đầy!

 

塞下曲其五

塞虜乘秋下,

天兵出漢家。

將軍分虎竹,

戰士臥龍沙。

邊月隨弓影,

胡霜拂劍花。

玉關殊未入,

少婦莫長嗟。

 

Dịch thơ: 

TÁI HẠ KHÚC KÌ 5

Tái lỗ thừa thu há,

Thiên binh xuất Hán gia.

Tướng quân phân hổ trúc,

Chiến sĩ ngọa Long Sa.

Biên nguyệt tùy cung ảnh,

Hồ sương phất kiếm hoa.

Ngọc Quan thù vị nhập,

Thiếu phụ mạc trường ta.

 

Dịch nghĩa:

KHÚC HÁT DƯỚI ẢI (KÌ 5)

Gặp tiết thu giặc ngoài ải tràn xuống

Binh trời ra từ nhà Hán

Tướng quân chi ấn hổ trúc

Binh sĩ nằm lăn trên bãi Bạch Lonh Đôi

Trăng ngoài ải theo lẩn bóng cung

Sương đất Hồ thấm ướt lưỡi kiếm

Ngọc Quan chưa vào được

Vợ trẻ chớ nên than dài

 

Dịch thơ:

KHÚC HÁT DƯỚI ẢI

Thu giặc tràn xuống ải

Nhà Hán xuất binh trời

Tướng nhận ấn hổ trúc

Chiến sĩ nằm Long Đôi

Trăng ải, cung theo ảnh

Sương Hồ ướt kiếm thôi

Ngọc Quan chưa vào được

Thiếu phụ chớ than dài.

 

塞下曲其六

烽火動沙漠,

連照甘泉雲。

漢皇按劍起,

還召李將軍。

兵氣天上合,

鼓聲隴底聞。

橫行負勇氣,

一戰靜妖氛。

 

Phiên âm:

HẠ TÁI KHÚC KÌ 6

Phong hoả động sa mạc,

Liên chiếu Cam Tuyền vân.

Hán hoàng án kiếm khởi,

Hoàn triệu Lý tướng quân.

Binh khí thiên thượng hợp,

Cổ thanh lũng để văn.

Hoành hành phụ dũng khí,

Nhất chiếm tĩnh yêu phân.

 

Dịch nghĩa

KHÚC HÁT DƯỚI ẢI (KÌ 6)

Khói lửa rung động ngoài sa mạc

Soi đến tận mây Cam Tuyền

Vua Hán chống kiếm dậy

Lại vời Lý tướng quân

Khí quân tụ cả trên trời

Tiếng trống vang dậy ngoài cõi

Tung hoành đầy khí thế

Yêu quái một trận dẹp tan

 Dịch thơ:

KHÚC HÁT DƯỚI ẢI (KÌ 6)

Khói lửa rung sa mạc

Soi mây Cam Tuyền lan

Vua Hán chống kiếm dậy

Lại vời Lý tướng quân

Trên trời khí quân tụ

Ngoài cõi tiếng trống vang

Tung hoành đầy khí thế

Yêu quái một trận tan.

 

 SẦM THAM (715-770)  

                                 

Sầm Tham là người Nam Dương, tỉnh Hà Nam (Trung Quốc). Cha ông từng làm Thứ sử (hai lần), và đã qua đời lúc Sầm Tham còn nhỏ.

Nhà nghèo, ông phải tìm cách tự học. Năm 744 đời Đường Huyền Tông (ở ngôi: 712-756), Sầm Tham thi đỗ Tiến sĩ lúc 29 tuổi, được bổ làm một chức quan nhỏ là Binh tào Tham quân.

Năm 749, ông theo tướng Cao Tiên Chi đến An Tây  (ra biên ải lần thứ nhất), nhưng chẳng bao lâu lại trở về kinh đô Trường An.

Năm 754, ông ra biên ải lần thứ hai, làm Phán quan cho Tiết độ sứ An Tây là Phong Thường Thanh. Thời kỳ này, ông sáng tác rất nhiều thơ về chủ đề "biên tái".

Sau loạn An Sử (755-763), từ Tửu Tuyền (nay thuộc Cam Túc), Sầm Tham đến Phượng Tường (nay thuộc Bảo Kê, Thiểm Tây) là nơi Đường Túc Tông (ở ngôi: 756-762) đang ở. Được bạn thân là nhà thơ Đỗ Phủ và Phòng Quân tiến cử, ông được giữ chức Hữu bổ khuyết.

Thời Đường Đại Tông (ở ngôi: 762-779), Sầm Tham lại ra biên ải (lần thứ ba). Năm 766, ông được bổ làm Thứ sử Gia Châu (nên ông xưng là Sầm Gia Châu), nhưng sau đó bị bãi chức .

Lâm cảnh đói nghèo, năm 770, Sầm Tham mất trong quán trọ tại Thành Đô (nay là tỉnh lỵ tỉnh Tứ Xuyên) lúc 55 tuổi.

Tác phẩm của ông để lại có Sầm Gia Châu thi tập (Tập thơ của họ Sầm ở Gia Châu) gồm 8 quyển.

                                (Theo Từ điển mở Kiwipedia tiếng Việt)

磧中作

走馬西來欲到天,

辭家見月兩回圓。

今夜不知何處宿,

平沙萬里絕人煙。

 

 Phiên âm:

THÍCH TRUNG TÁC

Tẩu Mã tây lai dục đáo thiên,

Từ gia kiến nguyệt lưỡng hồi viên.

Kim dạ bất tri hà xứ túc,

Bình sa vạn lý tuyệt nhân yên.

 

Dịch nghĩa:

VIẾT TRONG SA MẠC

Giục ngựa chạy về phía Tây, muốn đến tận chân trời

 Rời nhà ra đi, đã thấy trăng hai lần tròn

 Đêm nay không biết ngủ ở đâu

 Trên sa mạc muôn dặm, tuyệt không thấy bóng người và khói bếp.

 

Dịch thơ:

CẢM TÁC TRONG SA MẠC

Ngựa sải về Tây muốn tới trời

Xa nhà chốc đã hai mùa rồi

Đêm nay chẳng biết  tìm đâu ngủ

Vạn dặm cát xa chẳng khói, người.

 

見渭水思秦川

渭水東流去,

何時到雍州.

憑添兩行淚,

寄向故園流.

 Phiên âm:

KIẾN VỊ THỦY TƯ TẦN XUYÊN

Vị thuỷ đông như khứ,

Hà thời đáo Ung Châu.

Bằng thiêm lưỡng hàng lệ,

Ký hướng cố viên lưu.

 

Dịch nghĩa:

THẤY SÔNG VỊ NHỚ TẦN XUYÊN

Song Vị chảy về đông

Bao giờ tới châu Ung

Nếu chở thêm được hai dòng lệ

Xin gửi đưa giùm về quê hương

 

Dịch thơ:

THẤY SÔNG VỊ NHỚ TẦN XUYÊN

Sông Vị chảy về Đông

Bao giờ tới châu Ung

Nếu thêm đôi dòng lệ

Xin gửi về cố hương.

 

逢入京使

故園東望路漫漫,

雙袖龍鐘淚不乾。

馬上相逢無紙筆,

憑君傳語報平安。

 

Phiên âm:

PHÙNG NHẬP KINH SỨ

Cố viên đông vọng lộ man man,

Song tụ Long Chung (1) lệ bất can.

Mã thượng tương phùng vô chỉ bút,

Bằng quân truyền ngữ báo bình an.

 

Dịch nghĩa:

GẶP SỨ GIẢ VÀO KINH

Ngóng về hướng đông nơi quê nhà, đường dài hun hút

Hai tay áo thõng, nước mắt không cạn

Ở trên lưng ngựa gặp nhau, không có bút trong tay

Nhờ anh gửi lời nhắn tin báo rằng tôi vẫn được bình yên.

 

 Dịch thơ:

GẶP SỨ GIẢ VÀO KINH

Đông ngóng quê nhà, chốn mênh mang

Hai tay áo thõng, nước mắt giàn

Gặp trên lưng ngựa không giấy bút

Nhắn hộ rằng tôi vẫn  bình an.

 

Nguyễn Ngọc Kiên

 

ĐƯỜNG THI – CHỦ ĐỀ BIÊN TÁI

(Kì 4)

Nguyễn Ngọc Kiên chọn dịch và giới thiệu thơ

 

VƯƠNG XƯƠNG LINH

Tiểu sử: Vương Xương Linh là người Kinh Triệu, Trường An (nay thuộc tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc).

Năm Khai Nguyên thứ 15 (727) đời Đường Huyền Tông (ở ngôi: 712-756), ông thi đỗ Tiến sĩ.

Bảy năm sau (734), ông lại đỗ khoa Bác học hoành từ, lần lượt trải chức: Bí thư sảnh, Hiệu thư lang, huyện úy huyện Dĩ Thủy [3].

Năm Khai Nguyên thứ 28 (740), vì phạm lỗi ông bị giáng làm Giang Ninh thừa. Rồi vì những vụn vặt, ông lại giáng làm Long Tiêu úy.

Cuối năm 755, tướng An Lộc Sơn dấy binh chống triều đình. Sau đó, Vương Xương Linh trở về làng thì bị viên Thứ sử ở địa phương tên là Lư Khưu Hiển giết chết vì tư thù  khoảng năm 756.

Số thơ của Vương Xương Linh để lại hiện còn hơn 180 bài, một nửa là tuyệt cú.

Ngoài ra, theo thiên "Nghệ văn chí" trong Tân Đường thư (Sử nhà Đường bộ mới), thì ông còn viết sách lý luận có nhan đề là Thi cách (Khuôn phép của thơ, gồm 2 quyển) và Thi trung mật chỉ (Ý sâu kín của thơ, gồm 1 quyển); nhưng nay chỉ còn quyển Thi cách do người đời Minh chép, nhưng có người nghi là sách giả, không phải nguyên bản

(Theo Từ điển Wikipedia mở tiếng Việt)

 

-王昌齡








 

Phiên âm:

TÁI THƯỢNG KHÚC – VƯƠNG XƯƠNG LINH

Thiền minh không tang lâm,
Bát nguyệt Tiêu Quan đạo.
Xuất tái phục nhập tái,
Xứ xứ hoàng lô thảo.
Tòng lai U Tinh khách,
Giai hướng sa trường lão.
Mạc học du hiệp nhi,
Căng khoa tử lưu hảo.

 

Dịch nghĩa:

KHÚC CA TRÊN ẢI -  VƯƠNG XƯƠNG LINH

Ve kêu trong rừng dâu đã rụng hết lá
Tháng tám ở cửa ải Tiêu Quan
Ra khỏi ải rồi lại vào ải
Đâu đâu cũng chỉ thấy cỏ lau đã úa vàng
Xưa nay những người ở U châu và Tinh châu
Đều sống chết một đời ở sa trường
Xin đừng học thói người hiệp sĩ du hành
Khoe khoang con ngựa xích thố oai hùng của mình

 

Dịch thơ:

KHÚC CA TRÊN ẢI -  VƯƠNG XƯƠNG LINH

Ve kêu dâu hết lá

Tháng tám ải Tiêu Quan.

Ra vào nơi cửa ải

Cỏ lau đã úa vàng.

Người U,Tinh Châu đó,

Một đời trên sa trường

Xin đừng như hiệp sĩ

Đem xích thố khoe khoang!

-- 王昌齡)








 

Phiên âm:

TÁI HẠ KHÚC KÌ II – VƯƠNG XƯƠNG LINH

Ẩm mã độ thu thuỷ,
Thuỷ hàn phong tự đao.
Bình sa nhật vị một,
Ảm ảm kiến Lâm Thao.
Tích nhật Trường Thành chiến,
Hàm ngôn ý khí cao.
Hoàng trần túc kim cổ,
Bạch cốt loạn bồng mao.

 

Dịch nghĩa:

 KHÚC HÁT DƯỚI ẢI (KÌ II) – VƯƠNG XƯƠNG LINH

Cho ngựa uống nước, qua sông thu
Nước lạnh, gió như dao cắt.
Trên bãi cát phẳng, mặt trời chưa lặn,
Nhìn thấy Lâm Thao mờ mịt xa xa.
Ngày xưa, chiến đấu ở Trường Thành,
Mọi người đều biểu lộ ý khí cao.
Bụi vàng đủ hết chuyện xưa nay,
Chỉ còn xương trắng lẫn lộn trong cỏ dại.

 

 Dịch thơ:

KHÚC HÁT DƯỚI ẢI (KÌ II) – VƯƠNG XƯƠNG LINH

Sông thu, ngựa uống nước

Nước lạnh, gió cắt da

Bãi cát phẳng  chưa tối

Lâm Thao mờ mịt xa

Trường Thành xưa chiến đấu

Ý chí biểu lộ ra

Nhìn bụi vàng đủ biết

Cỏ dại trắng xương pha

 

LÍ BẠCH

Tiếu sử: (Xem thêm kì 3)

  李白








 

Phiên âm: 

TÁI HẠ KHÚC KÌ I – LÍ BẠCH

Ngũ nguyệt Thiên sơn tuyết,
Vô hoa chỉ hữu hàn.
Địch trung văn "Chiết liễu",
Xuân sắc vị tằng khan.
Hiểu chiến tuỳ kim cổ,
Tiêu miên bão ngọc an.
Nguyện tương yêu hạ kiếm,
Trực vị trảm Lâu Lan.

 

Dịch nghĩa:

KHÚC HÁT DƯỚI ẢI (KÌ I) – LÍ BẠCH

Tháng năm núi Thiên Sơn vẫn còn tuyết phủ
Chẳng thấy hoa chỉ giá rét lạnh lùng
Tiếng sáo thổi nghe bài "Chiết liễu"
Chưa từng thấy cảnh sắc mùa xuân
Buổi sớm đánh nhau nghe theo hiệu trống
Ban đêm nằm ngủ ôm chiếc yên ngọc
Muốn tuốt gươm bên lưng
Thẳng chém chúa Lâu Lan

 

KHÚC HÁT DƯỚI ẢI (KÌ I) – LÍ BẠCH

 

Tháng Năm Thiên Sơn tuyết

Không hoa, rét tê người

Nghe sáo thổi “Chiết liễu”

Cảnh sắc xuân đâu rồi?

Sớm đánh theo hiệu trống

Đêm ôm yên ngủ thôi!

Muốn tuốt thanh gươm nọ

Chém Lâu Lan làm đôi! 

 








 

Phiên âm:

TÁI HẠ KHÚC KÌ 2 – LÍ BẠCH

Thiên binh há bắc hoang,
Hồ mã dục nam ẩm.
Hoành qua tòng bách chiến,
Trực vị hàm ân thậm.
Ác tuyết hải thượng xan,
Phất sa lũng đầu tẩm.
Hà đương phá Nguyệt Chi,
Nhiên hậu phương cao chẩm.

 

Dịch nghĩa:

 KHÚC HÁT DƯỚI ẢI KÌ 2 – LÍ BẠCH

Binh trời xuống cõi Bắc
Ngựa Hồ muốn uống nước bờ Nam
Ngáng giáo xông pha trăm trận
Chỉ vì được đội ơn sâu
Trên bể, vốc tuyết ăn
Bên ruộng, phủi cát ngủ
Bao giờ đánh tan được Nguyệt Chi
Mới nằm gối cao yên giấc

 

Dịch thơ:

 KHÚC HÁT DƯỚI ẢI KÌ 2 – LÍ BẠCH

Thiên binh xuống cõi bắc

Ngựa Hồ uống bờ Nam

Cầm gươm đánh trăm trận

Mong được báo hoàng ân

Trên bể, vốc tuyết uống

Ruộng cát ngủ ấm thân

Khi nào tan giặc Nguyệt

Kê gối cao, yên nằm!

 

  - 李白

駿






 

Phiên âm:

TÁI HẠ KHÚC KÌ III – LÍ BẠCH

Tuấn mã như phong biều,
Minh tiên xuất Vị Kiều.
Loan cung từ Hán nguyệt,
Sáp vũ phá thiên kiêu.
Trận giải tinh mang tận,
Doanh không hải vụ tiêu.
Công thành họa Lân các,
Độc hữu Hoắc Phiêu Diêu.

 

Dịch nghĩa:

KHÚC HÁT DƯỚI ẢI  (KÌ III) – LÍ BẠCH

Tuấn mã chạy như gió
Ra roi thẳng Vị Kiều
Giương cung từ tạ trăng Hán
Mũi tên cắm lông bắn phá giặc trời
Trận tan, tia sáng trên sao tắt
Doanh vắng, khói biển tiêu tan
Lập công được vẽ tượng trên gác Kỳ Lân
Chỉ có quan Phiêu Diêu họ Hoắc

 

 Dịch thơ:

KHÚC HÁT DƯỚI ẢI  (KÌ III) – LÍ BẠCH

Tuấn mã vút như gió

Rời Vị Kiều ra roi

 Giương cung biệt trăng Hán

Mũi tên phá giặc trời

Trận tan, sao sáng tắt

Doanh vắng, khói biển trôi

Vẽ Kì Lân công trạng

Chỉ Hoắc Phiêu Diêu thôi!

 

 

LẠC TÂN VƯƠNG 駱賓王 (640?-684)
         Tiểu sử tóm tắt:    Lạc Tân Vương người Nghĩa Ô tỉnh Chiết Giang, nổi tiếng thơ hay từ năm bảy tuổi. Ông ra làm quan đời vua Cao Tông, Võ Hậu nhưng bất mãn xin thôi. Khi Từ Kính Nghiệp nổi lên chống lại triều đình có dùng ông làm chức phủ thuộc. Ông có thảo bài hịch kể tội Võ Hậu. Cuộc biến loạn thất bại, ông bỏ trốn và mất tích. Theo Cựu Đường thư thì ông bị giết năm 684

Các tác phẩm được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1923 của tác gia này đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước. Những bản dịch hoặc lần tái bản phát hành sau ngày đó vẫn có thể có bản quyền. Các tác phẩm được phát hành sau khi tác giả mất có thể có bản quyền tùy thuộc vào chúng đã phát hành được bao lâu tại từng quốc gia và lãnh thổ cụ thể.

(Theo Từ điển Wikipedia mở tiếng Việt)

 

- 駱賓王




 

Dịch nghĩa:

DỊCH THỦY TỐNG BIỆT – LẠC TÂN VƯƠNG

Thử địa biệt Yên Đan,
Tráng sĩ phát xung quan.
Tích thời nhân dĩ một,
Kim nhật thuỷ do hàn.

 

Dịch nghĩa:

TIỄN BIỆT TRÊN SÔNG DỊCH – LẠC TÂN VƯƠNG

Nơi đây từ biệt Thái tử Đan nước Yên
Tóc tráng sĩ (2) dựng ngược đội cả mũ lên
Người xưa đã khuất rồi
Nước sông nay còn giá lạnh (3)

 

Dịch thơ:

TIỄN BIỆT TRÊN SÔNG DỊCH (1) – LẠC TÂN VƯƠNG

Đây biệt Thái tử  Đan nước Yên

Tóc tai tráng sĩ ngược mũ lên

Người xưa nay đã đi đâu khuất

Sông nước nay còn giá lạnh nguyên!

 


(1) Thuộc tỉnh Hà Bắc Trung Quốc
(2) Kinh Kha vâng mệnh Thái Tử Đan nước Yên đi mưu sát Tần Thủy Hoàng
(3) Nhắc lại lời Kinh Kha đêm chia tay "gió hiu hắt, sông Dịch lạnh ghê . Tráng sĩ một đi không trở về."

Nguyễn Ngọc Kiên

 

ĐƯỜNG THI – CHỦ ĐỀ BIÊN TÁI

(Kì II)

Nguyễn Ngọc Kiên chọn dịch thơ

Trong số trước chúng tôi đã giới thiệu một số bài thơ Đường, chủ đề Biên tái. Với đề tài này, chúng tôi tiếp tục giới thiệu ba bài “Lương Châu từ” (Khúc hát Lương Châu) của Trương Tịch (Trung Đường). Trương Tịch 張籍 (768-830), người Hoài Châu, một đời làm quan khá thuận lợi. Ông là bạn thân của Bạch Cư Dị, Đỗ Phủ, Nguyên Chẩn, Bùi Độ. Ông từng làm Quốc Tử tư nghiệp.

 Lương Châu (涼州) nay thuộc tỉnh Cam Túc, giữa Lan Châu và Vũ Uy, trước đây là nơi hàng bao thế kỷ người Hồ và người Hán đánh nhau. Lương Châu từ là một điệu hát cổ của nói về chuyện trận mạc biên ải. Nó thường được các thi nhân thời trước lấy làm đầu đề để sáng tác.

涼州詞其一 - 張籍

邊城暮雨雁飛低,
蘆筍初生漸欲齊。
無數鈴聲遙過磧,
應馱白練到安西。

 

Phiên âm:

LƯƠNG CHÂU TỪ KÌ I – TRƯƠNG TỊCH

Biên thành mộ vũ nhạn phi đê,
Lô duẩn sơ sinh tiệm dục tề.
Vô số linh thanh dao quá thích,
Ưng đà bạch luyện đáo An Tây. 

 

Dịch nghĩa:

KHÚC HÁT LƯƠNG CHÂU KÌ I – TRƯƠNG TỊCH

 

Mưa chiều ở thành biên giới nhạn bay thấp
Lau măng mới mọc cùng nhau từ từ vươn cao
Nhiều tiếng chuông vọng qua sa mạc nghe xa xa
Ngựa và lạc đà chở lụa trắng vào An Tây.

 

Dịch thơ:

KHÚC HÁT LƯƠNG CHÂU KÌ I – TRƯƠNG TỊCH

 

 Biên giới mưa chiều nhạn sà bay

Lau măng mới mọc cùng vươn tay

Xa xa chuông vọng qua sa mạc

Lạc đà chở lụa tới An Tây.

 

涼州詞其2 - 張籍

古鎮城門白磧開
胡兵往往傍沙堆。
巡邊使客行應早,
每待平安火到來。

 

Phiên âm:

KHÚC HÁT LƯƠNG CHÂU KÌ II – TRƯƠNG TỊCH

Cổ trấn thành môn bạch thích khai,
Hồ binh vãng vãng bạng sa đôi.
Tuần biên sứ khách hành ưng tảo,
Mỗi đãi bình yên hỏa đáo lai.

 

Dịch nghĩa:

KHÚC HÁT LƯƠNG CHÂU KÌ II – TRƯƠNG TỊCH

 

Cửa thị trấn xưa cát trắng bắt đầu lấp
Lính Hồ lui tới trên những đụn cát
Sứ giả tuần biên muốn lên đường sớm
Thường chờ những đội lính (phục kích ban đêm) trở lại bình yên.

 

Dịch thơ:

KHÚC HÁT LƯƠNG CHÂU KÌ II – TRƯƠNG TỊCH

Cổng trấn xưa cát trắng lấn ra
Lính Hồ trên đụn cát  gần, xa
Sứ tuần biên muốn lên đường sớm
Chờ lính bình an trở lại nhà.

涼州詞其3 - 張籍

 

鳳林關裏水東流,
白草黃榆六十秋。
邊將皆承深恩澤,
無人解道取涼州。

 

Phiên âm:

LƯƠNG CHÂU TỪ KÌ III – TRƯƠNG TỊCH

Phượng Lâm quan lý thủy đông lưu,
Bạch thảo hoàng du lục thập thu.
Biên tướng giai thừa thâm ân trạch,
Vô nhân giải đạo thủ Lương Châu.

 

Dịch nghĩa:

KHÚC HÁT LƯƠNG CHÂU KÌ III – TRƯƠNG TỊCH

 

Trong ải Phượng Lâm nước chảy về hướng đông
Cỏ trắng du vàng đã 60 năm rồi
Tướng ngoài biên đã hưởng nhiều ân sủng
Nhưng không có người mở đường đánh lấy Lương Châu.

 

 

Dịch thơ:

KHÚC HÁT LƯƠNG CHÂU KÌ III – TRƯƠNG TỊCH

Về đông nước chảy, ải Phượng Lâm

Cỏ trắng du vàng sáu chục năm

Tướng lĩnh biên cương nhiều ân sủng

 

Chiếm Lương Châu ai nấy lặng câm.

 

ĐƯỜNG THI – CHỦ ĐỀ BIÊN TÁI

 

                                         Nguyễn Ngọc Kiên chọn dịch thơ

 

Trong các tác phẩm Đường thi, chủ đề Biên-tái là một trong những chủ đề được nhiều tác giả khai thác.

Nhìn lại hoàn cảnh lịch sử thời Đường, Tống, khi mà các bộ tộc phía Bắc và phía Tây Bắc Trung Hoa không ngừng lớn mạnh và xâm lược về phương Nam thì có thể hiểu tại sao nhiều thi nhân thời Đường như: Lý Bạch, Vương Xương Linh, Đỗ Phủ,... đã để lại những tác phẩm bất hủ, còn mãi với thời gian.

Chủ đề Biên-tái có thể phân ra làm 2 mảng:

Mảng thứ nhất với các bài thơ mang tâm trạng hừng hực ý chí yêu nước, quyết lập công nơi vùng biên ải.

Mảng thứ hai là các bài thơ mang tâm trạng buồn xa quê hương, nhớ nhung nơi quê nhà hoặc đau xót khi nhìn vật xưa cảnh cũ.

Tiêu biểu trong chùm thơ này phải kể đến các bài:

Lũng tây hành - Trần Đào

Quan san nguyệt, Tư biên - Lý Bạch

Cổ ý - Lý Kỳ

Cô nhạn - Thôi Đồ

Lương châu từ, Tái thượng khúc, Tái hạ khúc - Vương Xương Linh

Xuất tái - Vương Chi Hoán. Chúng tôi xin giới thiệu “Lũng Tây” của Trần Đaò, “Tư biên” của Lí Bạch và mấy bài “Lương Châu từ” của Vương Hàn và Vương Chi Hoán.

 

隴西行其二 - 陳陶

誓掃匈奴不顧身,

五千貂錦喪胡塵。

可憐無定河邊骨,

猶是深閨夢裡人。

 

Phiên âm:

LŨNG TÂY HÀNH KÌ 2 – TRẦN ĐÀO

Thệ tảo Hung Nô bất cố thân

Ngũ thiên điêu cẩm táng Hồ trần

Khả liên Vô Định hà biên cốt

Do thị xuân khuê mộng lý nhân.

 

Dịch nghĩa:

 LŨNG TÂY HÀNH KÌ 2

Thề quét sạch giặc Hung Nô chẳng tiếc thân

Năm nghìn chiến sĩ mặc áo gấm, đội mũ da điêu vùi xác trong bụi Hồ

Đáng thương cho những bộ xương bên bờ sông Vô Định

Vẫn còn là người trong mộng của chốn xuân khuê.

 

Dịch thơ:

 LŨNG TÂY HÀNH KÌ 2

Thề quét Hung Nô chẳng tiếc thân

Bụi Hồ vùi xác, mấy nghìn quân

Thương cho xương cốt bờ Vô định

Mà vẫn người trong giấc mộng xuân.

 

思邊 -  李白

 

去年何時君別妾,

南園綠草飛蝴蝶。

今歲何時妾憶君,

西山白雪暗秦雲。

玉關去此三千里,

欲寄音書那可聞。

 

Phiên âm:

TƯ BIÊN – LÍ BẠCH

Khứ niên hà thời quân biệt thiếp

Nam viên lục thảo phi hồ điệp

Kim tuế hà thời thiếp ức quân

Tây sơn bạch tuyết ám Tần vân

Ngọc quan khứ thử tam thiên lý

Dục ký âm thư na khả văn ?

 

Dịch nghĩa :

NHỚ BIÊN CƯƠNG

Năm ngoái vào lúc này, chàng và thiếp ly biệt
Bên vườn nam, bướm bay vờn cỏ xanh biếc
Năm nay vào lúc chia biệt ấy, thiếp nhớ tới chàng
Núi phía tây, tuyết trắng che kín, xám mây Tần
Ngọc quan nơi chàng đến cách xa ba ngàn dặm
Muốn gởi lá thư, không biết chàng có nhận được chăng ?

 

Dịch thơ :

NHỚ BIÊN CƯƠNG

 

 Biệt nàng năm trước đúng ngày này
Vườn nam cỏ biếc bướm vờn bay.
Nay mùa chia biệt, sao thương nhớ
Tuyết trắng mây Tần xám núi Tây !
Ngọc quan xa cách ba nghìn dặm
Muốn gửi thư nhà, chàng có hay?!

 

 王翰

 




 

Phiên âm:

LƯƠNG CHÂU TỪ KÌ I – VƯƠNG HÀN

Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi,
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi.
Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu,
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.

 

Dịch nghĩa:

KHÚC HÁT LƯƠNG CHÂU (KÌ I)

Rượu bồ đào cùng với chén lưu ly
Muốn uống nhưng đàn tỳ bà đã giục lên ngựa
Say khướt nằm ở sa trường, anh chớ cười
Xưa nay chinh chiến mấy ai trở về đâu.

 

Ghi chú: Lương Châu nay thuộc tỉnh Cam Túc, giữa Lan Châu và Vũ Uy, trước đây là nơi hàng bao thế kỷ người Hồ và người Hán đánh nhau. Lương Châu từ là một điệu hát cổ của nói về chuyện trận mạc biên ải. Những điệu hát cổ như: Thượng chi hồi, Chiến thành nam, Thương tiến tửu, Quân mã hoàng, Viễn như kỳ, Hoàng tước hành, Lạc mai hoa, v.v... được các thi nhân thời trước lấy làm đầu đề để sáng tác.

 

Dịch thơ:

KHÚC HÁT LƯƠNG CHÂU (KÌ I)

Rượu nho ngon chén dạ quang

Muốn uống, đàn giục lên đường không thôi

Say nằm  chiến địa, chớ cười

Xưa nay chinh chiến mấy ai trở về.

 

涼州詞其二 王翰

 

秦中花鳥已應闌
塞外風沙猶自寒。
夜聽胡笳折楊柳
教人意氣憶長安。

 

Phiên âm:

LƯƠNG CHÂU TỪ KÌ 2 -  VƯƠNG HÀN

Tần trung hoa điểu dĩ ưng lan

Tái ngoại phong sa do tự hàn

Dạ thính Hồ già Chiết Dương Liễu

Giao nhân ý khí ức Trường An.

 

Dịch nghĩa:

KHÚC HÁT LƯƠNG CHÂU  KÌ 2 –VƯƠNG HÀN

Ở đất Tần, hoa sắp tàn, chim bay đi gần hết
Ngoài quan ải thì gió cát vẫn còn lạnh lẽo
Ban đêm tiếng Hồ già (1 loại sáo của người Hồ) thổi bài “Chiết dương liễu”
Khiến cho lòng người nhớ về Trường An.

Dịch thơ:

KHÚC HÁT LƯƠNG CHÂU KÌ 2

 

Đất Tần  chim vắng hoa sắp tàn

Gió cát ải ngoài buốt ruột gan

Nghe  sáo Hồ đêm “Chiết dương liễu”

Lòng người bỗng nhớ tới Trường An

 

 

 

 

 

 

出塞 - -
 




Phiên âm
XUẤT TÁI -
LƯƠNG CHÂU TỪ - VƯƠNG CHI HOÁN
Hoàng hà viễn thượng bạch vân gian
Nhất phiến cô thành vạn nhận san
Khương địch hà tu Oán Dương Liễu
Xuân phong bất độ Ngọc môn quan

 

Dịch nghĩa:

KHÚC HÁT LƯƠNG CHÂU – VƯƠNG CHI HOÁN


Hoàng Hà chảy xa xa như dài lên tận mây trắng
Một phiến thành cô quạnh, muôn trượng núi cao
Tiếng sáo người Khương cần chi phải oán dương liễu (ý là thổi bài “Chiết Dương liễu”)
Vì gió xuân nào có qua được cửa ải Ngọc Môn Quan.

 

Dịch thơ:

KHÚC HÁT LƯƠNG CHÂU

Hoàng Hà chảy phía mây trắng bay

Một phiến thành cô vạn trượng này

Sáo Khương sao thổi “Oán dương liễu”

Gió xuân có tới Ngọc Môn đây?

 

Nguyễn Ngọc Kiên

 

 

 

 

CHÙM THƠ VỀ HOA BẰNG LĂNG

 

MÀU TÍM BẰNG LĂNG

Áo em tím tự ban đầu

Hay là hoa tím nhuộm màu áo em?
Hồn tôi còn có bình yên
Cánh hoa tựa những nỗi niềm khát khao
Đất trời bỗng thấy lao xao
Bằng lăng sắc tím bay vào thơ tôi!


 Hà Nội mùa hoa bằng lăng, 2013
             Nguyễn Ngọc Kiên

 

DƯỚI TÁN BẰNG LĂNG (I)

 

Có phải em đang đợi một người?
Vô tình năm tháng cứ dần trôi
Bằng lăng cố ý gây thương nhớ
Rõ khổ thân tôi… Tội nghiệp tôi!

 

DƯỚI TÁN BẰNG LĂNG (II)

 

Dưới tán bằng lăng chẳng thấy người
Lối xưa nay đã khác đi rồi
Màu hoa tím vẫn nôn nao tím
Ngơ ngác bên đường một bóng tôi!

Hà Nội,5/2014

 

Cơn Mưa Đầu Mùa

 

                           (Tặng T.)       

 

Địa cầu đang bị nung khô

Cây xơ xác lá, người xơ xác … người.

Hiếm hoi ngọn gió mồ côi

Không mang đi nổi những lời thở than.

Đêm qua trên khắp nhân gian

Ngập tràn trong nỗi hân hoan vô bờ.

Cơn mưa bất chợt đầu mùa

Gợi bao cảm xúc mơ hồ trong ta.

 

Sáng nay mở cửa nhìn ra

Bằng lăng lại tím như là … bằng lăng!

 

                         Hà Nội, mùa bằng lăng 2013

 

 

 

 

 

 

Thơ Nguyễn Ngọc Kiên

 

 

Bildergebnis für hình ảnh sân bay nội bài về đêm

 

NỘI BÀI TIỄN EM

(Tặng C. T.)

                              Nguyễn Ngọc Kiên

Dặn dò chẳng kịp đôi câu
Ngượng ngùng như chửa biết nhau bao giờ.
Tiễn em như thể tình cờ
Mà tôi ngơ ngác, thẫn thờ vì đâu?
Kiếp xưa có nợ gì nhau
Mà ai gieo thảm rắc sầu cho ai?
Tôi bơ vơ giữa Nội Bài
Chuyến bay như thể ra ngoài hành tinh!

 


Hà Nội, 9/2013

 

 

Thơ Nguyễn Ngọc Kiên

 

 

Ähnliches Foto

 

TƠ GIĂNG

 

           Nguyễn Ngọc Kiên

Cửa sổ phòng anh để gió lùa
Ngoài kia con nhện vẫn giăng tơ
Hương hoa vẫn ngát theo làn gió
Mê mải anh tìm những tứ thơ.

Em đến thăm anh buổi tối này
Ngắm nhìn khung cửa đến mê say
Có gì liên tưởng mơ và thực
Có lẽ tơ hồng kết từ đây.

Anh mới bình tâm nhận thấy rằng
Hồn em cũng tựa lưới tơ giăng
Cho anh ngơ ngẩn từ hôm ấy
Đã vướng vào em, em biết chăng?

  Hải Đường, Hải Hậu, 5/2015
  Nguyễn Ngọc Kiên

 

 

Thơ Nguyễn Ngọc Kiên

 

 

Ähnliches Foto

Vui buồn cùng phây-búc (facebook)


Ai lên phây-búc cùng tôi
Tâm tư trăn trở những vui cùng buồn.
Người khoe của, kẻ khoe con
Người khoe vợ đẹp, kẻ còn khoe xe.
Còn tôi khiếm khuyết trăm bề
Nửa thị thành nửa nhà quê thưở nào!
Tình tôi - những đợt sóng trào
Tôi gom thương nhớ gửi vào trang phây.
Gặp em giữa cuộc đời này
Như ngôi sao lạ vụt bay ngang trời.
Thời gian cứ hững hờ trôi,
Sao em nỡ chẳng đọc tôi một lần!
  
Nguyễn Ngọc Kiên

 

 

 

 

 

 

Nguyễn Ngọc Kiên

 

 

Bildergebnis für ảnh động hoa đẹp

 

 

QUYỀN ĐƯỢC RÊN – MỘT KIỆT TÁC

CỦA NHÀ VĂN LÊ MAI

                       

 

Cầm truyện ngắn “Quyền được rên” trên tay, ngườì đọc nghĩ ngay đến Hà Nội những năm tám mươi của thế kỷ trước. Nhà chật chừng hai mươi mét vuông mà chứa đến ba cặp vợ chồng. Mọi sinh hoạt thật bất tiện! Ngay cả rên khi quan hệ tình dục cũng phải ý tứ nhìn trước ngó sau! Nhưng “Quyền được rên” không phải truyện viết về tình dục hay sinh hoạt vợ chồng. Truyện viết về cuộc đời thực của nhà văn Hoàng Công Khanh, người đã được nhà nước đặt tên đường ở Kiến An Hải Phòng.

Trong công ước LHQ về quyền con người có nói, mọi  người đều có quyền được lao động học tập và nghỉ ngơi (Each person has the right to work, to rest and to housing). Rồi quyền hội họp, quyền biểu tình…, nhưng không thấy nói đến quyền được rên.

Có thể nói mà không sợ ngoa ngôn rằng “Quyền được rên” của nhà văn Lê mai có thể xếp trên “Sống mòn” của Nam Cao;  vì “Sống mòn” viết về cuộc đời của ông giáo Thứ rất khổ cực trước cách mạng tháng Tám. Ở đây nhân vật chính là Hoàng không những vô cùng cực khổ mà còn phải chịu trăm đắng ngàn cay! “Quyền được rên” còn xếp trên “Chuyện kể năm 2000” của Bùi Ngọc Tấn, có dung lượng mấy trăm trang, cuối cùng chỉ đi tìm câu trả lời vì sao mình bị tù. “Quyền được rên” là truyện ngắn nén rất chặt trong mấy chục trang, nhưng nó có tầm tư tưởng rất lớn của một tiểu thuyết. Nó được viết ra không phải để gây thù chuốc oán hoặc khắc sâu thêm mối hận thù. Mà nó rất bao dung để nhớ lại một thời ấu trĩ! Đúng như có lần nhân vật chính đã “thủ thỉ nói với con và cũng như nói với lòng mình:

Ông - Con ơi! Oán hờn mà trả bằng oán hờn thì oán hờn ngày càng chồng chất. Con người hơn con vật ở chỗ đối xử với nhau có nghĩa có nhân. Lớn lên rồi con sẽ hiểu, không phải ngẫu nhiên mà Thánh Găng Đi nói: “Tôi không bao giờ tự hạ thấp mình ngang tầm của bạo lực.” Cái gì đã qua bố con mình cùng cho qua con nhé! Chớ để bụng, đừng thù oán ai cả… Càng đớn đau mình phải sống càng nhân hậu, con có hiểu không?”

Đó cũng chính là tư tưởng nhân văn xuyên suốt của mạch truyện.

Cách hành văn có những đoạn đảo ngữ, nói lên được cái phi lý không thể giải thích được. Nó hệt như các truyện của Kafka, phi lý nhưng rất đúng “quy trình” ở xã hội Việt nam hôm nay!

“Quyền được rên” giống như câu thành ngữ của người Anh: “thanh gươm Damocles (the sword of Damocles) treo lơ lửng trên đầu” nhà văn. Viết văn là nghề hết sức nguy hiểm. Nhà văn lúc nào cũng nơm nớp lo sợ. Nguyên nhân chính là người ta nghi ông có dính dáng đến “Nhân văn giai phẩm” và bắt ông vào tù.

Nhân vật Hoàng, tức Hoàng Công Khanh bắt đầu được biết đến qua vở kịch thơ Về Hồ được diễn ở Hà Nội chào mừng quốc hội khóa một nước Việt Nam dân chủ cộng hòavà sau đó được công diễn trên nhiều vùng kháng chiến khắp cả nước. Thời gian đầu kháng chiến chống Pháp ở Liên khu 3, ông giữ nhiều chức vụ quản lý trong ngành văn hóa và vẫn viết đều tay. Giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám đến 1950, ông xuất bản hai tập truyện ngắn Trên bến Búng (1947) và Chuyện người tù binh Algérie (1948), hai vở kịch nói Màn cửa vàng (1950) và Nhập ngũ (1950) cùng tập thơ Hà Nội không ngủ (1950). Các sáng tác của Hoàng Công Khanh thời kỳ này chủ yếu có mục đích phục vụ cuộc kháng chiến chống Pháp.Từ giữa năm 1950 đến 1954, ông về Hà Nội viết văn, viết báo, làm tổng biên tập tạp chí Dân ý, một tạp chí có sự lãnh đạo của thành ủy Hà Nội. Những tác phẩm được nhắc tới nhiều nhất của Hoàng Công Khanh được viết trong thời gian này. Ông đã cho xuất bản các tác phẩm Mối tình đầu (tiểu thuyết, 1951), Mẹ tôi sớm biệt một chiều thu (tiểu thuyết, 1953, tái bản 1991), Yêu chỉ một lần (tiểu thuyết, 1954), Trại Tân Bồi (tiểu thuyết, 1953), Bạn đường (tiểu thuyết, 1953), Éo le (tiểu thuyết, 1954), Bến nước Ngũ Bồ và Cung phi Điểm Bích (kịch thơ, xuất bản 1953, tái bản 1991). Các vở kịch thơ Bến nước Ngũ Bồ, Cung phi Điểm Bích được dựng lại trên sân khấu vào các năm 2007, 2008 và đều được đánh giá rất cao. Riêng Cung phi Điểm Bích còn được Giải A giải thưởng sân khấu 2007 của Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam. Cuộc đời của nhân vật Hoàng (Hoàng Công Khanh) đầy tài năng và lừng lẫy như vậy nhưng đầy những nghịch lý:

-                           Nghịch lý thứ nhất, ông làm nhà văn, và viết văn khi chẳng biết làm nghề gì khác. Với một nhà văn lừng lẫy như thế, khi ra tù nhớ nghề lúc rảnh, ông lại viết. Ông biết “ Văn chương là thứ cực kỳ nguy hiểm. Vinh quang chẳng đáng là bao mà nhục nhã ê chề thì vô tận. Ngày ra tù ông đã ngầm tự hứa sẽ cai nó, sẽ cạch nó đến già. Nhưng gió, nhưng nắng, nhưng hương đồng gió nội, nhưng những thôn nữ dịu dàng, e ấp như lúa, như ngô… khiến thi hứng giờ đây cuồn cuộn trào dâng. Ông chặc lưỡi . Sao mình lại không viết?”

 Thấy ông ngồi viết, đứa con gái ông sợ hãi – một nỗi sợ mơ hồ, đã phải kêu lên:

“Bố ơi! Bố đừng viết nữa con sợ lắm. Thảo nào thi sĩ Phúc, văn sĩ Lam cứ phải viết chui, viết lủi. Mỗi lần viết cứ phải lén lút như tội phạm. Những câu thơ hay, những áng văn hay thẫm đẫm tình người – tình vật phải chịu chung số phận đớn đau nơi gầm giường, nóc bếp, đống rơm, chuồng lợn…

Có lần, ông nghiêm túc nói với con:

“- Bác Trần vừa tề gia nội trợ - nữ công gia chánh để bác gái bán hàng vừa viết truyện. Ông Trương vừa bới rác nhặt rau nuôi lợn vừa viết kịch. Bác Phùng vừa cắt tóc vừa làm thơ. Bác Loan vừa câu cá vừa vẽ… Chẳng lẽ bố lại không vừa làm lái chó vừa viết văn được sao? Không đọc không viết bố thấy tiếc thời gian lắm, tủi mình và chưa xứng với mẹ, với các con. Vả lại, không viết nữa tức là bố công nhận mình sai, phải đi tù là đúng”

- Nghịch lý thứ hai, một ngày ở ngoài nghìn thu ở tù. Bạn bè phải thốt lên, khi ông được vào tù - cái chi  tiết thật đắt và cũng hài hước, chỉ có ở Việt Nam:

“- Học tập xong rồi hả? Giác ngộ rồi, đến giáo huấn ta đấy phỏng?... Ngẫm kỹ thấy anh cũng giỏi. Giỏi lắm! Người đời phải gây tội mới được tù. Còn anh, chẳng phải nhọc xác gây gì cũng được tù. Thời Pháp đi tù thời Pháp. Thời ta đi tù thời ta. Thời nào cũng được tù. Dễ thường nghề tù cũng đến kịch bậc rồi chứ kém cỏi gì!”

Cuộc đời ông này ở tù đâm ra lại còn sướng hơn ở ngoài. Ở tù ông có cơm ăn, áo mặc và có công ăn việc làm. Ra tù thì chẳng có việc gì để làm. Để kiếm kế sinh nhai ông đã từng làm kéo xe, rồi làm người buôn chó, rồi dùng sức “chân cò tay vượn” của mình để đi đào hầm thuê.

Ra tù, có lúc không việc làm, những bạn bè, “đồng chí” một thời cũng xa lánh ông như xa lánh hủi:

“Ngày ra tù, về nhà con thấy đấy. Nhà mình vẫn hoang lạnh như nấm mồ hoang. Bạn bè thân thiết, hàng xóm láng giềng có ma nào đến sẻ chia với mình đâu. Thậm chí ra ngoài đường có người chẳng may gặp bố, họ còn kéo mũ che mặt lảng đi.”

- Nghịch lý thứ ba, nỗi buồn khi hết chiến tranh. Người ta thì vui mừng khi nghe tin chấm dứt chiến tranh. Đối với ông, hết chiến tranh đồng nghĩa với việc ông bị thất nghiệp. Hết chiến tranh thì ai còn thuê ông đào hầm nữa! Cuộc đời đầy chua chát!

“Sư cha cái anh Giôn Xơn, nó lại tuyên bố: Ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra. Nghĩa là, nó ngừng ném bom ở khoảng không gian mà ông sống và đào hầm để kiếm sống. Thế là… ông lại thất nghiệp.”

Nghịch lý thứ tư, ông đi tù mà không biết mình phạm tội gì. Ở trong tù, ông hỏi quản giáo:

 “Thưa cán bộ, trường hợp tôi bao giờ thì được ra toà?”  Ra tòa! Phải! Ra tòa! Các phạm kinh tế hay hình sự ở lán ông ai cũng đã được ra tòa. Họ có án đàng hoàng. Họ biết rõ ngày đi – cũng biết rõ ngày về. Còn ông… Ông mong ước được ra tòa. Ra tòa – ông nghĩ: Mọi việc sẽ được phân định rõ ràng. Trắng ra Trắng. Đen ra Đen. Lúc ấy, dẫu có phải đi tù ông cũng không oan ức. Người quản giáo nhìn ông. Nhìn từ đầu xuống chân rồi khinh khỉnh nói:

-                     Ông là nhà văn có tiếng mà còn dốt thế! Tù rồi còn đòi ra tòa làm gì?

Những câu trả lời ngô nghê của người quản giáo là minh chứng hùng hồn cho một thời quá ư là ấu trĩ:

Ông lạnh người nhận ra cái tuyệt đúng, tuyệt gọn, tuyệt dễ hiểu của lời lẽ anh quản giáo, nhưng như thế thì mông lung quá, mịt mờ quá… Ông rụt rè thưa tiếp:

- Nếu không ra tòa, không có án tôi biết sao được tội gì? Hình phạt là bao nhiêu năm?

Và đây nữa, lời anh quản giáo mới thật hài hước như lời một diễn hài:

“Nhìn ông, anh quản giáo cười hiền, tỏ ý thông cảm:

- Dốt thế, ở tù cũng đáng... Ông là đi học tập, đi cải tạo chứ có phải tù đâu mà hỏi án bao nhiêu năm. Đi học tập, đi cải tạo thì bao giờ học tập tốt, cải tạo tốt thì… ra trường. Tốt nghiệp ý mà! Muốn biết bao nhiêu năm thì phải tự hỏi mình chứ hỏi gì tôi. Thôi, hồ hởi, phấn khởi nhé!.

Cái tư tưởng nhân văn của tác phẩm được gói lại ở đoạn đối thoại với vợ ông, khi ông bộc bạch – đây là cái đoạn cũng rất con người:

“Vợ con khóc tu tu: Tiếng Tây tiếng Tàu đầy người…Tù thì còn hiểu được chứ. Đẩy xe bò thì không thể nào hiểu nổi”.

Và cuối cùng Hoàng đã trả lời vợ:

“Mà bà còn lạ gì tôi, nào có biết hận thù, căm uất ai đâu mà bà phải lo, phải sợ. Họ đánh mình đau quá thì mình rên. Rên cho nó đỡ đau, bà ạ! Con người ai chẳng có quyền được Rên.

Nhưng thật hài hước khi mà ở một xã hội đến rên cũng không thể được, thì không thể nói quyền làm gì khác của con người. Vợ ông nói:

- Sắp xuống lỗ rồi mà ông còn thơ ngây thế? Ông tưởng Rên là tội nhẹ lắm ư?  Các ông ngày xưa ngợi ca – hát ông ổng còn bị kẻ độc miệng cho mang vạ. Giờ lại đòi Rên. Quyền được Rên! Ơ hơ…quyền được Rên! Ngớ ngẩn, ngớ ngẩn hết chỗ nói…”

 

Vĩ thanh

Tóm lại “Quyền được rên” là một kiệt tác của Lê Mai. Cách hành văn trong sáng, ngắn gọn, khúc triết, dung lượng của truyện được nén rất chặt. Nội dung tư tưởng và tính nhân văn rất rõ được thể hiện qua từng nhân vật.  Mặc dù trải qua những ngày tháng tù đày phải chịu “trăm đắng ngàn cay” nhưng cuối cùng ông đã được minh oan.  Tên Hoàng Công Khanh đã được đặt tên đường. Tác phẩm của ông đồ sộ và có giá trị ghi dấu ấn một thời như vậy, nhưng nhà văn chưa một lần được giải thưởng (phải chăng đây lại là một nghịch lý). Nhà văn Hoàng Công Khanh giờ đây hẳn cũng ngậm cười nơi chín suối.  Mỗi tác phẩm đều có số phận riêng của nó. Nhưng người viết tin rằng “Quyền được rên” sẽ sống mãi cùng hậu thế, bất chấp thời gian. 

 

                                                 Nguyễn Ngọc Kiên

 

 

 

 

 

TỨ TUYỆT NGUYỄN NGỌC KIÊN

 

VIẾT GIỮA ĐẦM SEN

 

Giữa vùng đầm trời và nước mênh mông


Em cứ mơn mởn thế làm sao anh chịu nổi!


Anh ngơ ngẩn cùng mây bay và gió thổi


Đứng chết lặng trên bờ em có cứu anh không?


                                           Hà Nội, 10/9/2013

 

 

 

 

KHÓM HỒNG TRƯỚC SÂN


Một khóm hồng xanh ở trước sân
Mưa sa gió giật đã bao lần
Sớm nay bỗng nở bừng dăm nụ
Kịp đón xuân về với chủ nhân.


                               Hải Đường Hải Hậu, 1/ 2014
GHI Ở THÁNH ĐỊA MĨ SƠN

 



 

 

Giữa trưa hè về với Mĩ Sơn


Cô hướng dẫn viên ném vào tôi cái cười tinh nghịch.


Chợt thấy mình hóa thành phế tích


Trước vẻ đẹp hút hồn bất chấp cả thời gian!

                             

  Quảng Nam, 7/2013
                                Nguyễn Ngọc Kiên

 

 

 

Tác Giả: Nguyễn Ngọc Kiên

 

Bildergebnis für ảnh con chó khóc

 

 NỖI ĐAU THỜI CUỘC

                                                              Nguyễn Ngọc Kiên

 

 Chuyện rằng, nhà nọ bỗng dưng xuất hiện rất nhiều chuột. Chuột đủ loại: Chuột Cống – Chuột Đồng – Chuột Chù – Chuột Nhắt… Chúng quá thể lắm, chẳng coi ai ra gì. Thế là anh chồng nghĩ ra keo dính chuột. Rồi lợi bất cập hại! Chuột chẳng dính lại dính ngay người. Nghĩ đủ cách nhưng mỗi cách chỉ được một thời gian, trong đó có cả phương pháp diệt chuột theo binh pháp Tôn Tử! Cách kể chuyện ngụ ngôn hài hước (humour), giọng văn trào lộng không lẫn vào đâu, chỉ có ở Lê Mai! Vì vậy câu chuyện càng thêm hấp dẫn, mang tính thời sự cao! Bà vợ bèn nghĩ ra cách nuôi mèo, nhưng cũng không ổn. Mèo (đại diện chống tham nhũng) lại thông đồng với chuột (kẻ tham nhũng). Thỉnh thoảng mèo mới vồ được con chuột nhắt mà cứ chờn vờn ra oai với thiên hạ, theo kiểu “thùng rỗng kêu to”, công lao của ta cũng rất lớn:

“Năm thì mười họa mới vồ được con chuột nhắt mà cứ ra vẻ ta đây, quăng con mồi chỗ này, quẳng con mồi chỗ kia, dền dền dứ dứ… sốt ruột. Gặp con chuột to, chuốt cống thì lỉnh. Lại còn lươn lẹo, thông đồng cả với lũ chuột mới kinh. Chẳng phải ngẫu nhiên mà đồng dao có câu:

Con mèo mà trèo cây cau

Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà

Chú chuột đi chợ đồng xa

Mua mắm mua muối giỗ cha chú mèo.”

Cuối cùng anh ta nghĩ đến chuyện nuôi chó. Ngay cả cái chuyện vợ chồng đặt tên cho chó cũng thật khôi hài rất “Lê Mai”! Tên ta hay Tây? Hiện đại hay truyền thống? Làm sao phải xóa bỏ hận thù hướng tới tương lai!

“Anh đặt cho nó là Cún. Cún có được không em? Cún! Nghe vừa thuần Việt, thuần chủng vừa tình cảm. Vợ anh buột miệng khen: tên hay, được lắm. Không như cái tên Bíp. Chẳng biết có bíp được ai không, hay chỉ bíp chính mình. Cún! Giỏi lắm. Các cụ mình từ ngàn xưa thường vẫn gọi cháu chắt yêu dấu của mình là Cún con anh nhỉ. Cún. Hay, hay tuyệt. Vừa tình cảm vừa truyền thống. Anh vui với niềm vui của vợ. Cún mừng với niềm vui của chủ.”

Nhưng kết cục thật thảm hại!

Chuột (tham nhũng) càng leo lên cao thì cún (chống tham nhũng) càng bất lực. Vì ở cùng một nhà nên đành phải thỏa hiệp “ chung sống hòa bình” như dân chúng ở vùng thiên tai phải sống chung với lũ – cún ta tự an ủi bằng cái lý luận cù lần “ thôi, anh em cùng một nhà không thể ta chống ta được!”. Không tìm ra giải pháp, cún ta cứ luẩn quẩn bế tắc, đến nỗi cún phải …khóc, ngẩng mặt nhìn lũ chuột hoành hành. Từ nay có lẽ phải “cấm cửa” không cho lũ chuột xuống tầng một!

Nhà văn Lê Mai (Hà Nội) vốn là một thương binh chống Mỹ, sống một mình ẩn dật, cô đơn. Ông lặng lẽ quan sát, chiêm nghiệm thời cuộc, viết lên những trang văn sống động đầy tính hiện thực mang tính phúng dụ. Ông không đi theo lối mòn của một số nhà văn trại lính, viết theo kiểu “minh họa” - như nhà văn đại tá Nguyễn Minh Châu đã cáo chung. Nhà thơ Nguyễn Khôi nói rằng, với các tác phẩm như: “Tẩu hỏa nhập ma”, “Quyền được rên”, “Cún khóc”, “ Thời gian xuẩn ngốc” Lê Mai đã vượt trên cả Nam Cao, Bùi Ngọc Tấn (Hậu sinh khả úy!)

Đọc “Cún khóc” của Lê Mai người đọc lại nghĩ đến bài thơ “Hội đồng Chuột” (Conseil tenu par les rats) của nhà thơ ngụ ngôn nổi tiếng người Pháp La Phông ten (La Fontaine) , đầy tính phúng dụ.

 

Nguyễn Ngọc Kiên

Hải Đường, Hải Hậu, 12/11/2016

 

 

 

 

 

Thơ Nguyễn Ngọc Kiên

 

 

Bildergebnis für ảnh cáp treo bà nà

 

 

TRÊN CÁP TREO BÀ NÀ

 

Kẻ lữ khách cô đơn như treo lơ lửng cuộc đời mình trên sợi tóc
Mây trắng ở dưới chân trời xanh ở trên đầu.
Với em, chỉ một tích tắc thôi anh có thể là mãi mãi,
Mãi mãi với ngàn xưa và vĩnh viễn với ngàn sau !


Chợt thấy mình gấp ngàn lần mạo hiểm
Dám đem cá cược cả số phận mình
Trên một sợi dây vô hình
Đưa anh đến với cuộc đời em!

 

               Nguyễn Ngọc Kiên
               Đà Nẵng 18/7/2013

 

 

 

 

 

Thơ Nguyễn Ngọc Kiên

 

Ähnliches Foto

 

GỬI NGƯỜI XA

 

Thơ tình tôi viết tặng em,

Đêm Hà Nội trời cao xanh vời vợi

 Hàng cây xanh xạc xào gió thổi

Đang thì thầm nỗi nhớ gửi người xa.

Bao tháng ngày thấm thoắt trôi qua,

Với những chiều tiễn đưa, những đêm hò hẹn

Em như cơn mưa đầu hè chợt đi rồi chợt đến

Mái trường hồng bao kỉ niệm thiêng liêng

Nhưng mỗi người ai chẳng có cuộc đời riêng

Ai chẳng có những bồng bột vô tư của một thời tuổi trẻ

Dẫu những lời của hôm nay là “dời non lấp bể”

Thì mai vẫn hai trời li biệt ngóng tin nhau

Vẫn biết rằng những mất mát buồn đau

Với những gì của hôm nay chỉ còn trong thương nhớ

Những gì của hôm nay sẽ thuộc về quá khứ

Thì ta cứ nghĩ về nhau như buổi ban đầu

Để tâm hồn đẹp mãi với mai sau!

 

Đêm  Hà Nội trời cao xanh vời vợi,

Hàng cây xanh xạc xào gió thổi…

 

Nguyễn Ngọc Kiên

 

 

 

 

 

 

 

 

Nguyễn Ngọc Kiên

 

 

Ähnliches Foto

 

NGÀY CHỦ NHẬT VẮNG EM

   

 

Anh có chờ đâu ngày chủ nhật hôm nay

Rất vô lý hững hờ như chẳng có
Suốt đêm qua anh thao thức dưới sao  trời mắt hướng v
ề thành phố,

Chẳng biết là em có nhớ tới anh không?

 

Nhìn bầu trời vời vợi mênh mông

Tâm sự cồn lên bao điều mới mẻ.

Ngày chủ nhật hôm nay sao mà dài đến thế,

Trong đợi chờ khắc khoải nhớ mong em!

 

Anh biết ngày mai em vẫn lặng im

Cái lặng im xoáy vào tâm tư bao tháng ngày làm anh day     dứt

Niềm tin của anh lóe lên như ánh chớp

Trong bão tố cuộc đời vụt tắt phía trời xa!

 

Nhưng anh vẫn đợi chờ mong chủ nhật chóng đi qua

Để ngày mai lại thấy em trong lớp học

Nghe giọng nói thân thương nhìn nụ cười ánh mắt

Cho đời anh vợi bớt nỗi u sầu!

 

Có lẽ là anh chẳng xứng với em đâu

Nhưng trái tim anh không thể nào khác được!

Niềm tin của anh phải chăng là huyễn hoặc

Nhưng anh chẳng thể dối lừa được nữa em ơi!

 

Đời sinh viên năm tháng cứ dần trôi

Vẫn đậm nét trong anh từ buổi đầu gặp mặt.

Ôi phải chi đừng có ngày chủ nhật,

Ở mái trường này anh mãi mãi được gần em!

 

Nguyễn Ngọc Kiên

 

 

 

 

 

 

Thơ Nguyễn Ngọc Kiên

 

 

Image result for ẢNH HẢI HẬU

 

 

Trở về với rạ với rơm

Nguyễn Ngọc Kiên

Tặng quê hương Hải Hậu

 

Trở về với rạ với rơm
Còn nghe thoang thoảng hương thơm quê nhà
Mùi bùn đồng đất phù sa
Vị mồ hôi mặn thấm qua kiếp người!

Bàn chân cuối đất cùng trời
Trở về đây giữa buổi sùi sụt mưa
Trở về nơi bến sông xưa
Mùa xuân năm ấy em vừa tiễn anh

Trở về sau cuộc chiến tranh
Bao lời hò hẹn bỗng thành chia xa,
Em giờ cũng đã thành bà
Riêng mùi rơm rạ vẫn là hương xưa!

 

                                    Hải hậu 3/2015

 

                                  Nguyễn Ngọc Kiên

 

Nguyễn Ngọc Kiên 

 

Related image

 

 

NƯƠNG THEO NƯỚC MẮT MÀ ĐI

( ĐÔI ĐIỀU CẢM NGHĨ VỀ THƠ NGÔ MINH)

                                   Lê Mai

Làng Thượng Luật của anh toàn cát

Mẹ con anh là cát giữa mắt ĐƯỜI…

Sống sao đây khi đã mất tính người?

Lặng đi thôi! Nín đi thôi! Cát vọng.

Nước mắt người xoa cát dịu dàng trôi…

Nước mắt trong văn vắt tình người.

Cho anh những câu thơ vùi sâu trong cát đỏ

Tím lịm lòng người, hoảng loạn những giấc mơ…

Làm sống những câu thơ mà gượng dậy

Nương theo nước mắt mà trôi

Cho con chữ rạo rực sinh sôi trong cát nín

Gia sản cha dành chỉ còn có thế thôi

Lặng đi thôi! Nín đi thôi! Cát vọng.

Nước mắt người xoa cát dịu dàng trôi…

Những câu  thơ bay ra từ cát trắng

Lấp lánh tình đời, nồng ấm tình quê

Cứ nương nước mắt mà đi…

Cát vọng!

 

Lời bình của TS. Nguyễn Ngọc Kiên

LÊ MAI CẢM  THƠ NGÔ MINH BẰNG …THƠ

Nhà thơ Lê Mai viết cảm nhận thơ Ngô Minh bằng … thơ.

Đó là cách làm hết sức độc đáo!

Có thể coi đây là “lí lịch trích ngang” của nhà thơ Ngô Minh!

Nhà thơ Lê Mai dường như rất hiểu Ngô Minh và cả thời đại của ông. Vì vậy, cái đầu đề của bài thơ là “Nương  theo nước mắt mà đi” cũng rất gợi.

Thật vậy, Ngô Minh sinh ra từ nước mắt, lớn lên cùng nước mắt. Khổ thơ thứ nhất nói về bi kịch cuộc đời Ngô Minh.

Mẹ con anh là cát giữa mắt ĐƯỜI…

Sao lại là “giữa mắt ĐƯỜI”? Thôi thi ai muốn hiểu thế nào thì hiểu.

Ngô Minh phải trải qua những bi kịch - bi kịch của cuộc đời ông, bi kịch của thời đại ông. Thơ của ông có những câu xúc động lòng người. Chẳng hạn:

Ba ra đi một sáng hãi hùng

Máu quằn quại máu ròng cọc xử bắn

                               (Cát vọng)

Hay trong bài “Khuya bên mộ Ba”:

Biển lập lòe nhang sám hối

Con về tay trắng tay

Thơ làm sao cứu rỗi

Hoặc trong bài “Thơ khác trên bia mộ Mạ”:

Con xin dựng tim con làm bia mộ

Tạc câu thơ đời mạ đau buồn

Trái tim nhỏ ước là quả chín

Trên cát nhèo trắng xóa thời gian

Thời đại của ông, với gia cảnh của ông sống được cũng là một kì tích. Có nhiều cái biết đấy mà không dám nói ra. Muốn sống được, muốn tồn tại được đã khó, đằng này ông lại phấn đấu học tập để trở thành nhà thơ danh tiếng trong cả  nước; vậy nên đành phải:

Lặng đi thôi! Nín đi thôi! Cát vọng.

Ông chịu ơn nước mắt:

Nước mắt người xoa cát dịu dàng trôi…

Nước mắt trong văn vắt tình người.

Cho anh những câu thơ vùi sâu trong cát đỏ

Tím lịm lòng người, hoảng loạn những giấc mơ…

Và đây nữa, ông đã phải tự vươn lên. Cũng may mà một lũ người ngu dốt khi không chia những quyển sách của cha ông làm “quả thực” và ông còn được thừa hưởng:

Làm sống những câu thơ mà gượng dậy

Nương theo nước mắt mà trôi

Cho con chữ rạo rực sinh sôi trong cát nín

Gia sản cha dành chỉ còn có thế thôi

                             (Lê Mai - Nương theo nước mắt mà đi)

Cuộc đời ông rất nhiều tâm trạng. Nó giống như người có cái dằm lớn ở đầu ngón tay. Nhổ ra thì không được mà để thì nhức nhối khó chịu. Chính điều này đã chi phối toàn bộ sáng tác của Ngô Minh mà chúng tôi sẽ nói dưới đây.

Ở khổ thứ hai, Lê Mai viết:

“Nước mắt người xoa cát dịu dàng trôi…

Nước mắt trong văn vắt tình người.”

Nói đến sáng tác của  Ngô Minh, chúng tôi đặc biệt chú ý đến thể loại lục bát của ông. Thơ ông có mấy đặc điểm nổi bật sau:

1) tôn vinh nước mắt,

2) chịu ơn nước mắt,

3) nương theo nước mắt mà đi,

4) thơ ông không có âm hưởng rộn rã reo vui.

Như trên đã nói, do hoàn cảnh, ông không dám đi đến tận cùng. Thơ của Ngô Minh hầu như bài nào cũng có câu hay, tứ thơ đẹp, lấp lánh. Ta dễ dàng nhặt ra những câu hay, dễ đi vào lòng người. Chẳng hạn, bài thơ viết tặng vợ:

Nhâm Thìn giờ giáp niên tròn

Bi bô cháu, rộn ràng con ấm lòng

Bao năm mặn ngọt vợ chồng

Xuân này anh níu đuôi rồng lại bay

                       (Nhâm Thìn em)

Trong bài “Tường ơi…” tặng Hoàng Phủ Ngọc Tường có những câu thật  thông minh, thật trí tuệ:

Tường nằm điện thoại và nghe

Tiếng cười xa ngái sơn khê mây mù

Rồi khóc cười đẫm câu thơ

Rượu không còn uống vẫn thừa men say.

…..

Tường ơi

Không đứng thì nằm

Nghê nga cùng lũ dế buồn gáy mưa

Trong bài “Lục bát mùa đông” có những câu thật lấp lánh:

Mùa đông lục bát cơ hàn

Từng cơn gió lạnh thổi tràn tâm tư

Đặc biệt, có những chi tiết rất bình thường cũng đi thẳng và thơ Ngô Minh và có thể gây ấn tượng mạnh:

May mà mình có Miền Đông

Tuổi hai mươi ấy thật không dễ tìm

Chiều  ra quán xép không tên

Tiết canh lòng lợn…

                      nhớ quên chuyện buồn.

                                       (Gặp lại miền Đông)

 Không phải ngẫu nhiên mà nhà thơ Duy Khoát nói với chúng tôi rằng: “Cứ ở đâu có thơ Ngô Minh là ông tìm đọc cho bằng được”. Đó chẳng phải là hạnh phúc của người sáng tác hay sao?

Thơ ông đầy ắp tình bè bạn. Ông ca ngợi những bậc tiền bối như các bài “Lạy cụ Nguyễn Du”, “Nhớ ông Nguyễn Tuân”, “Điềm Phùng Thị”, “Cõi lặng Trần Dần”…., ông viết về những người đương thời “Tiễn NGuyễn Khắc Thạch lên tàu đi học trường viết văn Nguyễn Du”, “Khuya uống với bạn thơ Cà Mau”, ở đâu cũng có thơ tặng bạn bè: “Dưới đỉnh Mu Rùa tặng nhà thơ Hà Nhật”, “Chiều cùng nhà thơ Hải Kì qua đèo Hải Vân”, “Thơ đề tranh Trương Bé”…v.v…Rồi ông làm thơ tặng “thành phố người mới đến”, làm “thơ tặng người bán mặt nạ”. Nhiều lắm, không thể kể hết ra đây. Bài nào của ông cũng thấm đẫm tình người, ấm áp tình quê!

 Nhưng phải nói thật là chưa có bài nào đạt đỉnh cao tầm cỡ như “Tây tiến” của Quang Dũng. Mặc dù chúng tôi đánh giá không thấp về trình độ của Ngô Minh.

Ngô Minh làm thơ với thái độ hết sức nghiêm cẩn. Nhưng nếu chỉ nói về cái tài tình khi Ngô Minh dùng từ, hay ngắt câu, bẻ chữ như các nhà phê bình vẫn làm thì mới nói chung chung chứ chưa nói được đặc trưng của thơ Ngô Minh. Thơ ông định nói một cái gì đấy mà không dám. Vậy nên thơ ông nhất là lục bát, nói mà như không nói, không nói mà như nói. Nó mang màu sắc : sắc sắc không không của Đạo Phật, nhiều khi như vô vi của Đạo Lão. Chẳng hạn:

một đời có có không không

đều về với cỏ phiêu  bồng người ơi

nằm nghe lục bát gọi đôi

một anh

             một bóng

                            một người

                                               một không

                       (Lục bát gọi đôi)

Thực vậy, người đọc không khỏi đặt dấu hỏi khi ông viết: “con đi tìm giặc cho đến ngày bạc tóc.”

Thơ Ngô Minh không chỉ là tiếng nói nội tâm, khi ông dành cho bạn bè, quê hương và những người xung quanh. Ông còn dành một mảng lớn để Thưa Cha, Thưa Mẹ, Thưa Em. Đọc đến đây bất giác tôi nhớ đến bài “Dặn con” của thi sĩ Lục Du đời Tống:

Vốn biết thác rồi mọi việc qua,
            Chín châu chưa hợp xót lòng ta.
            Bao giờ bắc chiếm Trung Nguyên được,
             Ngày giỗ đừng quên cáo lão gia.

                                        ( Lục Du - Mai Lăng dịch)

……………………….

Như đã nói, Lê Mai rất hiểu Ngô Minh, hiểu cả thời đại của ông và đã viết Nương theo nước mắt mà đi. Không hiểu Lê Mai có trải qua  hoàn cảnh tương tự như Ngô Minh hay không hoặc chí ít ông từng trải qua thời kì Cải cách ruộng đất  “long trời lở đất”, cái thời kì tàn khốc nhất trong lịch sử của dân tộc!

 

Nguyễn Ngọc Kiên

 

 

Nhà Thơ Nguyễn Ngọc Kiên

 

 

Image result for ẢNH ĐỘNG HOA ĐẸP 

 

Nhưng quê tôi, Hà Nôi !

LÊ MAI

 

LỜI BÌNH CỦA NGUYỄN NGỌC KIÊN

 

Tôi đã đọc nhiều bài thơ viết về Hà Nội. Xưa nay có khá nhiều thơ hay viết về Hà Nội. Chẳng hạn Thăng Long hoài cổ của Bà Huyện Thanh Quan. Đọc xong ta có một cảm giác bâng khuâng hoài cổ. Hay buổi sớm mùa thu Hà Nội cứ man mác trong bài “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi thời kỳ kháng chiến:

 

Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội

Những phố dài xao xác hơi may

Người ra đi đầu không ngoảnh lại

Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy.

 

Giờ đọc đến « Hà Nội Quê tôi », cái cảm giác đọng lại trong tôi là rất lạ. Lạ về cảm xúc và cấu tứ! Những người lớn lên học hành rồi công tác ở Hà Nội thì nhiều. Nhưng không phải ai cũng là Hà Nội gốc. Lê Mai sinh ra và lớn lên ở Hà Nội. Đúng như lời tự sự của nhà thơ :

Tôi là người lao động, thế thôi!

Nhưng quê tôi:

Hà Nội!

Rồi những kỷ niệm của tuổi ấu thơ – ai chẳng có thời như thế. Lời thơ như những lời tâm sự thủ thỉ. Và chỉ có những người Hà Nội gốc mới viết được như thế này:

Đất quê tôi không lũ cao nắng hạn

Chỉ chân trời trên nóc bếp cheo leo

Tuổi thơ tôi những năm tháng leo trèo

Bắt bọ ngựa,

dính ve,

trèo me,

ném sấu.

Lời rủ rê của lũ ve yêu dấu

Gọi hè về khúc nở những mùa chơi.

Còn “những mùa chơi” là mùa gì thì chỉ người trong cuộc mới hiểu được. Tiếp theo là cái điệp khúc “... là của tôi” được lặp đi lặp lại nhiều lần. Sau mỗi lần như vậy, tác giả như tự hỏi rồi lại tự trả lời. Thì ra kiến thức về Hà Nội của một người Hà Nội bị dồn nén bấy lâu, nay mới có dịp bung ra qua những lời thơ mộc mạc, giản dị. Đơn giản: Tôi là người Hà Nội

Thế thôi!

Điểm nhấn của bài thơ là những Giếng Ngọc, Văn Miếu, Tháp Bút, Chùa Diên Hựu, Hồ Gươm và Hồ Tây. Một Hà Nội thật tinh tế:

“Pho sách thơm cha ông tạc để đời cho tôi hiểu vì sao người Hà Nội đốt trầm trong lúc đọc thơ”. Và đây nữa: “Tả Thanh Thiên xao xuyến cả cõi trời, cho tôi hiểu vì sao người Hà Nội nâng cốm vòng trong những lá sen tươi.”

Hà Nội của ta nhân văn lắm: “Cho tôi hiểu vì sao người Hà Nội, huyền thoại rồi còn vời vợi yêu thương.”. Hà Nội cũng thật anh hùng, thật nhân đạo: “Đóa sen tâm bừng nở nát cõi người cho tôi hiểu vì sao người Hà Nội cấp gạo thuyền giặc chết khỏi tha hương”.

 

Có người cho rằng, chuyện cấp gạo thuyền và ngựa cho quân giặc Minh trở về là chuyện của toàn dân ta, là chính sách nhân đạo của Nguyễn Trãi, sử sách cũng đã ghi. Chứ đâu phải chuyện của riêng Hà Nội. Người đọc dễ dàng cho qua câu thơ có tính “vơ vào” này vì tác giả quá yêu Hà Nội.

Tất cả “...là của tôi” để cuối cùng nhà thơ chốt lại: “Và em là của tôi !

Sự sống thiêng liêng kết bằng máu xương người, cho tôi hiểu mình lẽ đời giản dị ! »

Tục ngữ Mường có câu: “Người ta là hoa của đất”. Trong phép tu từ tiếng Việt xưa nay chỉ thấy ví “người đẹp như hoa”. Người viết bài này chỉ duy nhất thấy cách ví : « Ở đây hoa cũng đẹp như người », tức là so sánh đối tượng cần so sánh với vật so sánh .Và bây giờ lại thấy Lê Mai viết : « Báu vật của đời được phép ví với em ! »

Tôi thì hiểu rằng đây là cách viết xuất thần của tác giả!

Tóm lại “Quê tôi Hà Nội” là một bài thơ hay cách viết rất độc đáo. Tác giả thay mặt cho những người lao động Thủ đô nói lên được những tâm tư, suy nghĩ và niềm tự hào chính đáng của mình. Bởi vì:

Tôi là người lao động,

thế thôi !

Nguyễn Ngọc Kiên

 

 

 

Chùm thơ Nguyễn Ngọc Kiên

 

 

Image result for ảnh cành phượng

 

CÓ MỘT MÙA HÈ

                                        Nguyễn Ngọc Kiên

Đó là mùa hè đầu tiên của nhưng năm Chín mươi,

Mùa hè cuối cùng của những năm ngồi trên ghế trường Đại học.

Có trái tim lần đầu tiên thổn thức

Lần đầu tiên biết yêu trộm nhớ thầm!

 

Đó là mùa hè mong đợi nhừng hồi âm

Anh khắc họa hình em trong những bài thơ mới hoàn thành và những bài thơ đang viết dở!

Căn gác nhỏ bỗng nhiên thừa một nửa

Thừa cả  cái bộn bề đơn lẻ từ đây

Cứ mỗi chiều anh thơ thẩn dưới hàng cây

Như những hôm nào tiễn em vào giờ tan học.

Có con chim đã lâu rồi im tiếng hót

Bỗng cất tiếng véo von xao động cả  đất trời

Con chim cũng đau nỗi đau của đồng loại một thời

Nay ca những bài ca ấm tình bè bạn!

 

Giữa thành phố nhỏ nhoi mà anh và em cứ như hai tinh cầu cách xa nhau hàng triệu năm ánh sáng.

Anh như trái đất đang ngày đêm phát tín hiệu đi tìm sự sống xa xôi trong dải ngân hà.

Có phải anh và em đều đang phát sóng

Và hai sóng tâm hồn cũng sẽ giao thoa!

 

                                     Hà Nội, 1991

 

Related image 

 

 

CÓ MỘT MÙA ĐÔNG

Nguyễn Ngọc Kiên

 

Nghĩa lí gì đâu hỡi mùa đông

Đất trời trở dạ cứ như không

Em hay đợt gió mùa đông bấc

 

Tê buốt lòng anh nỗi nhớ mong!

 

Nguyễn Ngọc Kiên

 

 

“Khi anh chết” thơ Lê Mai qua lời bình Nguyễn Ngọc Kiên

  

         KHI ANH CHẾT

 

Khi anh chết, anh vẫn còn thấy đói
Anh nhìn tôi như hỏi: Có còn gì?
Mắt lệ nhòa, tôi còn biết nói chi
Bốn phía rợn tiếng đề pa của pháo!

 

Khi anh chết anh vẫn còn muốn nói
Tâm sự gì với vòi vọi trời cao?
Gió thương anh nên cố sức phều phào
Bốn phía rợn tiếng đề pa của pháo!

 

 

Khi anh chết anh vẫn còn muốn nhắn
Nhắn nhủ gì trong nước mắt rưng rưng?
Mắt đột nhiên biến sắc khoảng trời rừng
Bốn phía rợn tiếng đề pa của pháo!

 

Anh chết vội tôi chôn anh cũng vội
Không đào sâu chôn chặt mộ cho anh
Biết làm sao anh hỡi chiến tranh
Bốn phía rợn tiếng đề pa của pháo!

 

                             Lê Mai

 

 Related image

 

          LỜI BÌNH CỦA NGUYỄN NGỌC KIÊN

 

 

Tác giả Nguyễn Ngọc Kiên

          Nhà văn Lê Mai là cây bút đa năng. Anh đã có hai cuốn tiểu thuyết gây tiếng vang lớn là “Tẩu hỏa nhập ma” và “Thời gian xuẩn ngốc”, và truyện ngắn “Quyền được rên”. Anh lại viết rất nhiều bài ký chân dung đặc sắc về các văn nghệ sĩ như “Hà Thành siêu độc giả” được độc giả rất mến mộ. Nhưng anh vào Hội Nhà văn Hà Nội với tư cách là tác giả thơ. Qủa đúng như vậy…

 

          Kể từ đó tôi mới tìm đọc thơ Lê Mai, không khỏi ngỡ ngàng trước những tứ thơ độc đáo, lời thơ sâu đằm triết luận. Như nhà văn Vũ Ngọc Tiến đã nói rằng, hình tượng trong thơ Lê Mai có lúc phiêu bồng lãng mạn, có lúc trần trụi thô nháp cứ xuyên xoáy vào lòng người đọc. Nói về phận người anh viết “Khát một ngụm nước trong phải uống cả một dòng sông đục”; nói về sự xuống cấp văn hóa của người Hà Nội anh lại viết họ thản nhiên “đái lõm tường Văn Miếu”…

          “Khi anh chết” là một bài thơ tiêu biểu của Lê Mai – một hồi ức về chiến trường Quế Sơn, Quảng Nam trong những năm tháng khốc liệt. Trong bài “Khi anh chết” này tác giả cũng không cần nói nhiều, kể lể dài dòng mà cái điệp ngữ cứ lặp đi lặp lại “Bốn phía rợn tiếng đề pa của pháo” ở mỗi khổ thơ khiến tôi bị ám ảnh đến kỳ lạ! Những người tử tù giờ đây trước khi ra pháp trường để thi hành án cũng được ăn một bữa no. Nhưng hồi ấy người lính chết trận thì ngược lại, không một bữa no, người lính chết trận muốn nói điều gì với bạn hay nhắn nhủ với vợ con hay với người yêu nơi hậu phương. Ít ra là cũng có người để mà thương mà nhớ! Mà không bết lúc vào chiến trường người lính ấy đã kịp cầm tay người con gái hay chưa hay là “lúc ngã vào lòng đất vẫn con trai” (Trần Mạnh Hảo - Đất nước hình tia chớp).

          Còn ở đây:

          “Khi anh chết anh vẫn còn muốn nói
          Tâm sự gì với vòi vọi trời cao?
          Gió thương anh nên cố sức phều phào”.

          Khổ thơ như có một mối đồng cảm giữa người lính và tác giả. Giờ là đồng đội ra đi rồi sẽ đến lượt mình đây. Cũng có là thể bất cứ lúc nào! Và:
          “Khi anh chết anh vẫn còn muốn nhắn
          Nhắn nhủ gì trong nước mắt rưng rưng?
          Mắt đột nhiên biến sắc khoảng trời rừng”

          Nhưng tất cả đều không kịp nữa và rồi người lính chết vội, và bạn anh ta cũng chỉ chôn rất vội. Thương đồng đội lắm mà không thể làm khác được!…
          Đọc đến đây, có người viết trên FB cho rằng cái chi tiết:
          “Chết nằm xuống, còn hôn cờ Đảng
          Chết còn trao súng đạn, quên đau
          Chết còn trút áo cho nhau
          Miếng cơm dành để người sau ấm lòng”

mới thật sáo mòn, gượng gạo, sống sượng làm sao! Nhưng tôi thì cho rằng đó là vì để phục vụ công tác tuyên truyền mà thôi!

          Tất cả nội hàm tư tưởng bài thơ dồn đọng vào cái điệp ngữ rợn người, lạnh lùng, ma quái kia buộc người đọc phải liên tưởng suy ngẫm. Kết thúc bốn khổ thơ là bốn điệp khúc “Bốn phía rợn tiếng đề pa của pháo!”

          Mới hay “ở đời chữ cũng như lời có tiết kiệm mới quý, càng tiết kiện càng quý”. Câu nói bất hủ của nhà phê bình văn học Hoài Thanh đủ để tôi kết thúc dòng suy tưởng luận bàn về thơ Lê Mai qua bài “Khi anh chết”, một tứ thơ không mới mà rất lạ… Nhưng rất chân thực! Nó có sức ám ảnh và lay động! Đó là bài thơ hay viết về chiến tranh và sẽ còn sống mãi với thời gian!

 

          Nguyễn Ngọc Kiên

 

 

 

Thơ Nguyễn Ngọc Kiên

 

 

Related image

 

GẶP LẠI DÁNG HÌNH EM


                          Nguyễn Ngọc Kiên

 

Tôi có một mối tình,

Ngày tiễn tôi lên đường em tròn mười tám tuổi.
Tháng ba. Lúa đang thì con gái
Trên cánh đồng làng. Xanh, bát ngát xanh!
 
Tôi mang theo bóng hình em suốt những năm chiến tranh
Vượt qua những ngày tháng cam go, vô cùng tàn khốc
Nơi sự sống và cái chết chỉ cách nhau một khoảng bằng sợi tóc.
Cơn sốt rừng bợt bạt cả làn môi!
Vẫn một niềm tin bất diệt trong tôi
Ngày trở về em đón tôi trên cánh đồng đang mùa gặt,
 Tôi sẽ đi tiếp bên cuộc đời em với tình yêu và đất
Với  khát vọng ngàn đời mơ ước của cha ông!
Nhưng ngày tôi trở về “con sáo đã sang sông”
Chiến tranh như cơn địa chấn đi qua, bao người vợ mất chồng, bao
                                                                   lứa đôi  thành dang dở!
Mẹ cha cũng ra đi không chờ tôi được nữa,
 Sau những năm tháng mỏi mòn, héo hắt ngóng tin con!
Trên cánh đồng làng có những buổi buổi hoàng hôn
Tôi muốn khóc mà không khóc nổi!
Tôi và em chẳng ai là có lỗi,
Mà để tôi bơ vơ lạc lõng giữa quê nhà!
Mảnh đất này chẳng còn chỗ cho ta,
Tôi trốn chạy quê hương trong nỗi đau giằng xé
Quê ta đó mà bỗng xa lạ thế
Mỗi bận về quê,

Tôi như kẻ trộm rình mò trước cổng nhà ai!
Mọi nỗi buồn đau rồi cũng nguôi ngoai
Vết khứa trong tim cũng chai dần thành sẹo.
Suốt hành trình đi tìm bến đậu
Tôi như con ngựa bất kham rong ruổi khắp trăm miền!
Đã lâu rồi tưởng quá khứ đã ngủ yên
Hôm nay lại gặp em với dáng hình thân thuộc.
Có phải em từ hai mươi năm trước,
Tay ôm lượm lúa vàng vẫn đang đợi chờ tôi!
                             
Hải Đường Hải Hậu Nam Định, 6 /2013                  
Nguyễn Ngọc Kiên

 

THƠ TỨ TUYỆT NGUYỄN NGỌC KIÊN

 

VỀ TÚ LỆ

 

Lúa nương óng ánh hạt vàng

Hội mùa(1) nhộn nhịp, bản làng xôn xao

Hỡi em gái Thái hôm nào

Ai đem thương nhớ rắc vào hồn tôi!

 

                 Mù Cang Chải, 5/ 2015

 

ĐẸP BÊN DÒNG SÔNG TÔ

 

Giữa hè phượng cháy rực ven sông

Mắt em xoa dịu nhưng oi nồng

Em buông câu giữa dòng xuôi ngược

Anh đã mắc vào nhẹ như không!

 

                       Hà  Nội, 5/ 2016

 

NGÀY EM XA

 

Ước chi trên cõi đời này

Đừng bao giờ ốm những ngày em xa.

Mai anh sẽ ốm để mà,

Được bù lại những khi nhà không em!

 

                      Hà Nội, tháng 7/1991

 

NGÕ NHỎ

 

Ngõ nhỏ trưa hè hun hút sâu

Nồm nam lồng lộng ngát hương cau

Trời cao vời vợi, xanh thăm thẳm

Vi vút diều ai vẳng tự đâu!

 

                 Hải Hậu, 2016

 

 

 Image result for ẢNH cây thanh long

 

CÂY THANH LONG TRÊN ĐẤT HẢI HẬU QUÊ MÌNH

Nguyễn Ngọc Kiên

 

 

Thanh long quê ở miền Nam

Về đây xứ Bắc cứ ngàn ngạt xanh!

Trên thân cau đón  gió lành

Leo lên cột điện vờn quanh mây trời!

 

                                        Làng biển Hải Hậu, 2/2017

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thơ Nguyễn Ngọc Kiên

 

 

Image result for ẢNH bằng lăng

 

DƯỚI TÁN BẰNG LĂNG (II)

 

Dưới tán bằng lăng chẳng thấy người
Lối xưa nay đã khác đi rồi
Màu hoa tím vẫn nôn nao tím
Ngơ ngác bên đường một bóng tôi!

 

Hà Nội, mùa hoa bằng lăng 5/2014

 

 

Related image

 

 

EM NEO ANH LẠI VỚI ĐỜI!

Qua cơn tai biến đời anh
Như tia chớp vụt qua nhanh giữa trời.
Em neo anh lại với đời,
Ngoài kia những giọt trăng rơi đầy thềm!

 


  Hà Nội, 2014
 Nguyễn Ngọc Kiên